• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Đồng tính luyến ái - Đồng tình luyến ái

LM Stêphanô Huỳnh Trụ

Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về gia đình với chủ đề “Các thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh của công cuộc loan báo Tin Mừng” nhóm họp từ ngày 5 đến 19/10/2014, trong đó có vấn đề đồng tính luyến ái (homosexual). Đây là một vấn đề lớn của thời đại, được các giám mục quan đặc biệt quan tâm. Thuật từ homosexual có người dịch là đồng tình luyến ái. Trong phạm vi của bài này, chúng tôi thử tìm hiểu hai cách dịch đồng tính luyến áiđồng tình luyến ái xem có gì khác biệt và cách dịch nào thích hợp hơn.

dongtinh

1. Nghĩa của các từ đồng, tính, tình, luyến, ái.

1.1. Đồng: Có nhiều chữ: 同 (仝), 桐, 童, 僮, 銅 (铜), 瞳, 筒, 峒, 峝, 彤, 痌, 罿, 艟, 衕, 佟, 曈, 潼, 筩, 茼, 氃, 膧, 獞, 砼, 酮, 橦, 穜. Trong trường hợp này là chữ 同. Đồng có nghĩa: (dt.) (1) Hoà bình: Đại đồng chi thế (cõi đời cùng vui hoà như nhau, nhân dân cùng lòng với nhau không tranh cạnh gì); (2) Khế ước: Hợp đồng; (3) Họ Đồng. (đt.) (4) Tụ họp: Nễ ngã nan tái đồng (anh và tôi khó tụ họp lại), phúc lộc lai đồng (phúc lộc cùng tụ họp tới); (5) Thống nhất: Bất kiến cửu châu đồng (Không thấy chín châu thống nhất); (6) Cùng chia sẻ: Đồng cam khổ (chia ngọt xẻ bùi); (7) Tán thành: Đồng ý. (tt.) (8) Giống nhau: Tương đồng, đồng luật (Luật giống nhau). (pt.) (9) Cùng nhau: Hữu phúc cùng hưởng (cùng nhau hưởng phúc); (10) Với, và: Hữu sự đồng nễ thương lượng (có việc bàn với anh). Nghĩa Nôm: (1) Đứa hầu: Hồ đồng; (2) Đất cày: Đồng lúa; (3) Miền quê: Đồng quê.

1.2. Tính: Có năm chữ: 姓, 性, 并, 併, 倂. Ở đây là chữ 性, nghĩa là (dt.) (1) Bản năng, bản chất tự nhiên trời phú bẩm cho con người: Bổn tính, bẩm tính, tính thiện; (2) Đặc điểm riêng của sự vật: Dược tính, hoá tính, phẩm tính; (4) Giới, phân biệt đực cái: Giới tính, lưỡng tính, dương tính, nam tính; (4) Mạng sống. Tính mệnh; (5) Bộ phận sinh dục hay tính dục: Tính khí quan (bộ phận sinh dục); tính hành vị (giao hợp); (6) Phạm vi: Toàn quốc tính (phạm vi cả nước); (7) Phật giáo gọi nguyên do của vạn vật, nghịch với tướng; (8) Đực cái trong văn phạm: Dương tính, âm tính, trung tính; (9) Lối phản ứng: Giá dược tính tử bình hoà (thuốc này phản ứng nhẹ), sứ tính tử (nổi giận); Nghĩa Nôm: Thói nết: Tính ăn chơi.

1.3. Tình: Có bốn chữ 睛, 氰, 晴, 情. Ở đây là chữ 情, nghĩa là: (dt.) (1) Nỗi lòng: Điều cảm thấy trong lòng, do ngoại cảnh mà có: “Nỉ non đêm ngắn tình dài” (Đoạn trường tân thanh). (2) Cảm tình: Điều đã phát hiện ra ngoài: Thất tình (bảy loại tình cảm: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn). (3) Ái tình, tình yêu nam nữ: “Thảm vì tình lắm, lại vui vì tình” (Nhị độ mai). (4) Lòng thương yêu giữa người này và người khác: “Phụ tử tình thâm” (Tục ngữ). (5) Cùng yêu: Cái gì có quan hệ liên lạc với nhau: Đa tình, hữu tình. (6) Tâm lý chung của mọi người: Thế thái nhân tình (tình thường con người ta vậy); (7) Sự thật: Thanh văn quá tình (danh tiếng quá sự thực), tình nguỵ (thực và giả). (8) Ý riêng: Trần tình (tự giải bày ý mình ra). (9) Thú vị. (10) Nể, nể vì, nể nang: Khán tình diện (nể mặt). (11) (văn) Thật là, rõ ràng: Tình bất tri kỳ bất nghĩa dã (情不知其不義也chẳng biết điều đó là bất nghĩa) (Mặc tử: Phi công thượng), kỳ tri tình tín (其知情信 Sự biết của nó thật đáng tin) (Trang tử: Ứng đế vương). (tt.) (12) Yêu thương giữa hai người: Tình phu (người tình nam). (pht.) (13) Rõ ràng: Tình tri (biết rõ).

1.4. Luyến: có bốn chữ: 戀 (恋), 孌 (娈), 臠 (脔), 攣 (挛). Trong trường hợp này là chữ 戀, nghĩa là (dt.) (1) Họ Luyến. (đt.) (2) Yêu nhau về tình cảm và tình dục: Luyến ái. (3) Không muốn rời: Tình thương mến không bỏ ra được: Luyến luyến bất xả. (3) Tươi tắn: Uyển luyến.

1.5. Ái: Có nhiều chữ: 愛 (爱), 薆, 靉 (叆), 餲, 噯 (嗳), 曖 (暧), 僾, 嬡 (嫒), 藹 (蔼), 璦 (瑷), 噫, 靄 (霭), Trong trường hợp này là chữ 愛. Ái có bộ tâm 心, ý chỉ ban cho ân huệ. Phần trên cổ văn là thủ 手, chữ mịch 冖 nghĩa là vật che đậy, trùm lên, tâm giấu trong thân thể con người. Phần dưới là chân, nghĩa là chủ động. Ngày nay chữ ái 愛 trở thành kiểu chữ hình thanh và hội ý. Ái nghĩa là: (dt.) (1) Ơn thấm: Di ái (để lại ơn huệ cho người nhớ mãi); (2) Tình cảm yêu mến: Ái quốc (yêu nước), hữu ái (tình yêu giữa bạn bè);(3) Thân yêu (người hay vật được yêu): Lệnh ái (con gái cưng của người khác);(4) Một trong mười hai nhân duyên (Phật Giáo): Tham, tư, dâm, ái...; (5) Họ Ái. (đt.) (6) Mến yêu: Ái mộ (yêu mến), tương ái (thương nhau);(7) Quý trọng: Ái tích (yêu tiếc), tự ái (tự quý trọng mình); (8) Tham: Ái tài (tham tiền).(tt.) (9) Hai bên thương nhau: Ái tình (tình yêu). (10) Được yêu mến: Ái thê (vợ yêu).

2. Nghĩa của từ homosexual, homosexuality:

Tiếp đầu ngữ gốc Hy lạp homo- nghĩa là: cùng, đồng, danh từ sexuality dẫn xuất từ tĩnh từ sexual; sexual bắt nguồn từ chữ sexualis trong tiếng Latin, và sexualis phát xuất bởi chữ sexus (sex) của Latin, nghĩa là phái tính; sexuality nghĩa là tính dục. Homosexual (dt.): người đồng tính luyến ái; (tt.) (thuộc) tình trạng đồng tính luyến ái. Homosexuality (dt.): tình trạng đồng tính luyến ái.

Năm 1868, Karl-Maria Kertbeny, nhà báo gốc Hungary, phê bình hiến pháp mới của Đế quốc Phổ (Đức) mà chế ra từ homosexual, thay thế từ sodomypederast mà thời ấy vốn hàm ý kỳ thị.

Các từ “monosexual” (đơn tính), “homosexual” (đồng tính) và “heterosexual” (dị tính) xuất hiện lần đầu tiên trong một bức thư bằng tiếng Đức năm 1868 của Kertbeny.

30 năm sau, trong tác phẩm “Studies in Psychology” (Nghiên cứu tâm lý học), xuất bản năm 1897, nhà tính dục học người Anh Henry Havelock Ellis đã đề nghị thay thế homosexual bằng từ “homogenic”, vì ông cho rằng homosexual là một từ ghép sai ngữ pháp, nhưng từ đó đến nay, từ homosexual vẫn được sử dụng rộng rãi.

Hiện nay, người ta phân biệt: Heterosexual (hay straight, dị tính) khuynh hướng tình dục vớigiới tính khác. Homosexual (hay homoerotic đồng tính) khuynh hướng tình dục với cùng một giới tính; trong đó gay (hay queer, male homoerotic) miêu tả đồng tính nam, lesbian(hay gọi tắt là les) miêu tả đồng tính nữ. Bisexual (song tính) khuynh hướng tình dục với cả hai giới tính. Hermaphrodite (lưỡng tính, ái nam ái nữ): tình trạng cơ thể phát triển cả hai bộ phận sinh dục nam và nữ. Asexual (vô tính) không có khuynh hướng tình dục với cả nam lẫn nữ. Transsexual (chuyển giới) thường chỉ riêng tình trạng một người muốn hoặc đã thực hiện việc phẫu thuật thay đổi giới tính của mình. Transgender (xuyên giới) khi bản sắc giớiphái tính sinh học không tương đồng với nhau.

Bên Trung Hoa, thời xưa không có từ đồng tính luyến ái, mà dùng ẩn dụ “đoạn tụ” (斷袖; đoạn là đứt, tụ là tay áo, đoạn tụ nghĩa là cắt đứt tay áo). Chuyện kể, Hán Ai Đếsủng ái Đổng Hiền, có lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của nhà vua mà ngủ. Ai Đế muốn xoay người nhưng cũng không muốn làm tỉnh giấc của Đổng Hiền nên cắt cánh tay áo của mình. Người đời sau gọi mối tình đồng tínhmối tình đoạn tụ cũng từ điển cố này. Về sau, từ đồng tính luyến (同性戀) chỉ tình yêu cùng giới hay đồng tính luyến giả (同性戀者) chỉ người yêu cùng giới người có khuynh hướng yêu người đồng giới được dùng chính thức. Tuy nhiên từ đồng chí (同志) hay nữ đồng chí (女同志) thì phổ biến hơn trong cộng đồng người đồng tính. Từ này được dùng đầu tiên bởi các nhà hoạt động đồng tính ở Hồng Kông, sau đó nó được dùng như tiếng lóng ở Trung Hoa Đại lục và Đài Loan. Người nói tiếng Quảng Đông thì dùng chữ (基, dịch âm của gay).

Tại Việt Nam, pédérastie (Pháp) và pederast (Anh) được dịch là thói kê gian hay đồng tính gian dâm; sodomie (Pháp) và sodomy (Anh) gọi là sự kê gian lấp đít; thú dâm, hay: (Tội) kê dâm, kê giao, loạn dâm (giao hợp bất thường giữa những người đồng giới, giữa người với thú vật...). Đồng tính luyến ái được dùng dịch chữ homosexualité trong tiếng Pháp vào những năm 1930. Nó có trong Hán Việt Từ Ðiển (1931) của Ðào Duy Anh, cũng như trong Pháp Việt Từ Ðiển (1936) của cùng tác giả. Danh từ này có lẽ được phổ biến cùng với sự nhập môn của ngành tâm lý học phương Tây tại Việt Nam, và mang màu sắc y khoa. Ái nam ái nữ xuất hiện muộn hơn, vào những năm 1940, và hay được dùng trong đời sống hơn.

Ngày nay, có rất nhiều tiếng lóng dùng để chỉ những người đồng tính như: Bóng, đồng dục, để nói chung về người đồng tính; nói riêng đồng tính nam thì có: pêđê, gay, tám vía, hai thì, xăng pha nhớt, mônô, đồng cô, bóng cậu, bóng kín, bóng lộ, bóng ném, bóng chúa...; chỉ người đồng tính nữ: đồng cậu, bóng cô, ô môi; chỉ người lưỡng tính: ái nam ái nữ, hai phai (Hi-fi), hai trong một...

3. Đồng tính luyến ái hay đồng tình luyến ái?

Cần phân biệt tính dục (sexuality) với tình dục (genitality, liên quan đến thể lý - sinh lý; khác với dục tình: concupiscense; tức là những ước muốn xác thịt: carnal desir; thuật ngữ này chỉ phản ánh quan hệ tính giao giữa nam nữ). Tính dục là một khái niệm có nội hàm rộng hơn, vừa phản ánh quan hệ tính giao giữa hai cá thể khác giới, vừa chứa đựng những yếu tố tạo nên phần hữu hình và cả phần vô hình của một con người. Nói cách khác, ngoài thể lý - sinh lý, tính dục còn thêm chiều kích tâm lý - xã hội và văn hóa.

Ngay từ những năm 1970, Ủy Ban Giáo Dục và Thông Tin về tình dục của Mỹ đã đưa ra định nghĩa về tính dục như sau: “Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội”.

Vậy, tính dục là toàn bộ con người đó như là người nam hay người nữ và những yếu tố tạo nên tính dục cũng là những thành phần làm nên nhân cách - tổng thể những phẩm chất tâm lý đặc trưng ở một con người, thể hiện ra bằng hành vi ứng xử.

Trong một số sách báo và trang mạng, có người dùng chữ “đồng tình luyến ái”. Cụm từ này không thấy có trong các từ điển. Theo chúng tôi: Nếu dịch homosexualityđồng tình luyến ái thì không thích hợp, vì chữ đồng tình thường hiểu là cùng một ước muốn, ước muốn ở đây có thể hiểu là ước muốn xác thịt, tức là “tình dục”. Khái niệm tình dục không diễn tả đủ ý niệm về tính dục như đã nói trên.

Như vậy, homosexuality phản ảnh một khuynh hướng tính dục, khuynh hướng yêu thương khắng khít, không bỏ ra được, đối với những người có cùng giới tính (gender) hay phái tính (sex) với mình, nên dịch là đồng tính luyến ái thì thích hợp hơn.

4. Vấn đề người đồng tính luyến ái.

Một số người đồng tính và những người cổ võ cho quyền bình đẳng của người đồng tính thường cho rằng:

4.1. Người đồng tính chỉ khác với mọi người chủ yếu ở khuynh hướng tính dục (hấp dẫn với người cùng giới), ngoài ra họ có cấu trúc gen bình thường (XY hoặc XX) với hình thể bình thường thuộc nam hay nữ, có bản sắc giới bình thường (vẫn cảm nhận mình là nam hay nữ) và vai trò xã hội của giới cũng bình thường trong hầu hết trường hợp (chỉ có ít sống và cư xử như một người nữ, nếu là đồng giới nam và ngược lại).

4.2. Khuynh hướng tính dục có tính chất cố định, không phải là sự lựa chọn của cá nhân, nó được hình thành ngay từ nhỏ do sự tác động qua lại của các yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội, trước cả khi có trải nghiệm tình dục. Do đó, người đồng tính không có lỗi chỉ vì khuynh hướng tính dục của mình, trái lại họ chỉ là nạn nhân của một cấu trúc sinh học mà họ không thể thay đổi được.

4.3. Hành vi tính dục của người đồng tính là do khuynh hướng tính dục chi phối. Những hành vi ấy, dựa trên ý thức tự nguyện giữa hai cá nhân, không có gì đe doạ hay tác hại cho xã hội hay cộng đồng.

4.4. Do đó, nguyện vọng chính đáng của họ là được sống như một nhân cách bình thường khác, không bị kỳ thị, thành kiến, coi thường. Họ cần được bình đẳng về mọi mặt như những người khác, kể cả quyền kết hôn, lập gia đình.

5. Quan điểm của Giáo Hội Thánh Công Giáo.

Nhiều người cho rằng Giáo Hội Công Giáo “lên án người đồng tính luyến ái” là “để bảo vệ luật Chúa” mà thôi. Đó là một quan niệm hết sức sai lạc. Thiên Chúa không phải là một ông chủ với những lợi ích mà kẻ làm tôi tớ có bổn phận phải bảo vệ gìn giữ, nếu không thì ông chủ sẽ bị thiệt mất điều gì đó. Với Kitô hữu, Thiên Chúa là Cha, Ngài ban cho mỗi người sự hiện hữu và phẩm giá làm người và Ngài mời gọi mỗi người hoàn thiện chính mình theo đường lối thánh thiện, tốt lành và khôn ngoan mà Ngài hướng dẫn họ.

Lãnh nhận mặc khải từ Thiên Chúa, Hội Thánh có bổn phận truyền giảng toàn bộ sự thật về ý định cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho con người. Trong đó có lời mời gọi mỗi người sống tiết độ, khiết tịnh và thánh thiện theo gương Đức Kitô. Vì thế, Hội Thánh xác tín rằng:

5.1. Hành vi tính dục đồng tính không thể biện minh là vô tội vì “dựa trên ý thức tự nguyện giữa hai cá nhân, không có gì đe doạ hay tác hại cho xã hội hay cộng đồng”. Nếu một ngày nào đó khoa di truyền học có khả năng làm cho các ADN cùng loại kết hợp với nhau có thể phát triển và khả năng kháng thể, thì liệu chúng ta có cho rằng hành vi loạn luân là vô tội hay không? Cũng vậy, có nhiều người còn cho rằng thủ dâm là cần thiết, miễn là phải giữ chừng mực !!!

Các hành vi tính dục đồng tính nghịch với luật tự nhiên vì loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục. Thánh Kinh xem những hành vi này như những suy đồi nghiêm trọng. Truyền thống Hội Thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi tính dục đồng tính luyến ái tự bản chất là thác loạn. “Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào”. Hành vi tính dục, nếu tách rời khỏi tương quan nhân loại, là một hành động đơn thuần sinh vật. Sự thất bại của con người là thay vì hành động với một ý nghĩa và ý thức đầy đủ, thì chỉ mù quáng tuân theo bản năng.

5.2. Hội Thánh nhìn nhận một số người đã có khuynh hướng đồng tính thâm căn. Ðối với đa số những người này, khuynh hướng lệch lạc ấy là một thử thách. Do đó, Hội Thánh mời các tín hữu đón nhận những người đồng tính với lòng bác ái, tôn trọng, thông cảm và tế nhị, tránh đối xử bất công.

5.3. Hội Thánh khẩn thiết mời gọi những người đồng tính thực hiện ý Chúa trong cuộc sống, nếu là Kitô hữu, nỗ lực sống khiết tịnh, kết hợp các khó khăn gặp phải do hoàn cảnh đặc biệt của mình với hy tế thập giá của Chúa; cương quyết tiến dần đến sự hoàn thiện Kitô giáo nhờ kinh nguyện và ân sủng bí tích, nhờ biết tự chủ để củng cố tự do nội tâm và nhờ sự nâng đỡ của một tình bạn vô vị lợi.

5.4. Hội Thánh không chấp nhận hôn nhân đồng tính vì hôn nhân là một giao ước giữa một người nam và một người nữ, nhằm mục đích nâng đỡ, duy trì, làm cho lâu bền sự hiện hữu của loài người. “Tự bản chất, định chế hôn nhân và tình yêu lứa đôi qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh diễm phúc của hôn nhân. Do đó, không một chính phủ nào, không một cơ chế xã hội và chính trị của một quốc gia nào trên trần gian có thể chiếm lấy cho mình cái quyền trao ban hôn phối cho hai người đồng tính, vì tự bản chất, đồng tính là son sẻ, tuyệt sinh. Chỗ nào có luật này được biểu quyết, chỗ đó luật ấy là độc đoán và bất chính hoàn toàn, bởi vì luật đó cố tình nâng đỡ một quan niệm giả tạo về việc sinh sản của con người, xúc phạm đến phẩm giá hôn nhân của nhân loại, chương trình hôn nhân của Thiên Chúa.

Về quyền bình đẳng giữa mọi người không phân biệt khuynh hướng tình dục: Cần lưu ý: Bình đẳng không có nghĩa là như nhau (equivalence), không có nghĩa là phải đối xử với mọi người hay mọi nhóm cùng một cách y hệt như nhau. Xin đơn cử một thí dụ, đàn ông và đàn bà đều có quyền bình đẳng, nhưng vì khác nhau một cách có ý nghĩa, nên họ cần có các nhà vệ sinh riêng biệt nhau. Bình đẳng có nghĩa là phải đối xử với những sự vật tương tự như nhau một cách tương tự như nhau, chứ không đối xử một cách tương tự như nhau với những sự vật khác nhau trong căn bản.

6. Tóm lại.

Khuynh hướng tình dục với người đồng giới được gọi là đồng tính luyến ái thì thích hợp hơn là đồng tình luyến ái.

Hội Thánh không kết án những người có khuynh hướng đồng tính, mà chỉ kết án những hành vi tình dục đồng tính mà thôi: Hội Thánh mời gọi những người có khuynh hướng đồng tính trung thành gìn giữ đức khiết tịnh, phẩm giá đích thực của con người. Hội Thánh không loại trừ họ, nhưng tôn trọng, thông cảm và nâng đỡ họ sống hoàn thiện hơn. Ngược lại, Hội Thánh lên án những hành vi tính dục đồng tính và chống đối quy chế hôn nhân giữa hai người đồng giới.

Chúa Giêsu nói: “Quả vậy, có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã như thế; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19, 12).


Người ta thường lẫn lộn hai thuật từ phái tính (sex) và giới tính (gender). Khái niệm phái tính thuộc phạm vi sinh học, liên quan đến những yếu tố về kích thích tố, nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục... Trong khi đó, khái niệm giới tính có nội hàm rộng rãi hơn trong việc mô tả căn tính của đối tượng, liên quan đến các vai trò, công việc và sở thích, biểu hiện qua cách nhận thức, hành vi và cách ăn mặc, tác phong, lối sống...
(x. http://en.wikipedia.org/wiki/Sex_and_gender_distinction)

http://en.wikipedia.org/wiki/Karl-Maria_Kertbeny.

http://www.thefullwiki.org/Havelock_Ellis.

Từ lesbian được ghi nhận vào năm 1890, và trở thành danh từ vào năm 1925, thực chất từ này được biết đến vào khoảng năm 1732, cùng với sự phát triển của khuynh hướng tình dục đồng tính nữ (lesbianism) từ những năm 1870. Lesbian bắt nguồn từ tên đảo Lesbos, Hy Lạp, nơi nữ thi sĩ Sappho sinh sống. Lesbian là từ ghép của Lesb- là tên đảo và -ian chỉ người sống trên đảo Lesbos. Sau này, ở thế kỷ XX, lesbian lại có lúc được gọi theo tên của Sappho là sapphist, do Sappho thường làm thơ về đồng tính nữ.

Ngoài khuynh hướng tính dục (sexual orientation), 3 yếu tố khác tạo nên tính dục là: Phái tính sinh học (biological sex: hình thái, cấu trúc và chức năng của cơ thể nam nữ), bản sắc giới (gender identity: cảm nhận tâm lý thuộc về nam hay nữ) và vai trò xã hội của giới (gender expression: có hành vi phù hợp với chuẩn mực văn hóa của giới nam hay nữ, thường được coi là giới tính tâm lý).

Hán Ai Đế (26-1 TCN) tên thật là Lưu Hân là vị hoàng đế thứ 12 của nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông ở ngôi từ năm 7 đến năm 1 TCN.

Đổng Hiền (22-1 TCN) một người đồng tính, dịu dàng và có khuôn mặt kiều diễm giống phụ nữ. Khi nhà vua mất, hoàng đế mới là Vương Mãng cực lực phản đối Đổng Hiền. Vì sợ gặp hoạ và cũng để đáp lại tình yêu của vua dành cho mình, Đổng Hiền và vợ con đã tự sát tại nhà.

x. Đoàn Tử Huyến, Lê Thị Yến, SỔ TAY TỪ NGỮ LÓNG TIẾNG VIỆT, nxb CAND, Hà Nội, 2007.

http://ykhoa.net/tinhduc_gioitinh/tinhduc/57-17.html.

Đồng tình (tt.) có hai nghĩa: (1) Cùng một ý muốn, một ý chí, một lòng: Mọi người đều đồng tình nhất trí. (2). Tán thành và ủng hộ: Tranh thủ sự đồng tình. (x. Bộ Giáo Dục Đào Tạo, Nguyễn Như Ý (chủ biên), ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999; và Hội Khai Trí Tiến Đức, VIỆT NAM TỪ ĐIỂN, nxb. Văn Mới, Sài Gòn, 1954).

Đồng tính (tt.) có ba nghĩa: (1) Cùng một họ với nhau (Họ Lê, Lý, Nguyễn, Trần...). (2) Cùng một tính chất tại mọi điểm: Môi trường đồng tính. (3) Cùng một giới tính như nhau (đực với đực, cái với cái; con trai với con trai, con gái với con gái). Ở đây lấy nghĩa thứ 3. (x. Bộ Giáo Dục Đào Tạo, Nguyễn Như Ý (chủ biên), ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, nxb. Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999; và Thanh Nghị, TỪ ĐIỂN VIỆT NAM, nxb. Thời Thế, Sài Gòn, 1958).

Hội tâm thần học Mỹ (năm 1973) và Hội tâm lý Mỹ (năm 1975) đã loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh về rối loạn tình cảm và tinh thần, và xác nhận rằng những người có khuynh hướng tính dục này hoàn toàn khỏe mạnh, họ có năng lực thể chất như nhiều người khác. Chỉ có điều họ bị chi phối bởi khuynh hướng tính dục nên không thể có hấp dẫn với người khác giới.

x. St 19, 1-29; Rm 1, 24-27; 1 Cr 6, 10; 1Tm 1, 10.

Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Persona humana, số 8.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2357.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2358-2359.

Hiến chế Mục Vụ, số 48.