• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Trời tròn đất vuông.

Vài năm trước, cung thánh của nhà thờ Chánh Tòa Sài gòn được sửa sang lại, bàn thờ làm lại hoàn toàn mới, mặt bàn thờ có hình tròn, chân bàn thờ là một khối đá có hình vuông, lấy từ ý niệm “trời tròn đất vuông”. Từ đó, nhiều nhà thờ khác cũng làm bàn thờ theo hình dạng này. Vậy, trời tròn đất vuông là gì? Làm như thế có phải là hội nhập văn hoá không ?

troitro1

Bàn thờ chính của Nt. Chính Tòa Sài Gòn

  1. 1.Từ nguyên.

Trời tròn đất vuông nguyên văn chữ Hán là "thiên viên địa phương" (天圓地方). Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của bốn chữ này.

1.1.   Thiên: Chữ này có rất nhiều chữ Hán, chúng ta chỉ muốn tìm hiểu nghĩa của chữ 天 (thiên) thôi. dt. (1) Bầu trời: Thiên không. (2) Ông Trời: Thiên Chúa. (Có nhiều nhà tu xưa cho trời là ngôi chúa tể cả muôn vật, giáng họa hay ban phúc đều thuộc quyền ở trời cả. Nhà Phật thì cho trời cũng là một loài có công tu thiện nhiều hơn, được sinh vào cõi đời sung sướng hơn người mà thôi). (3) Cái gì kết quả tự nhiên, sức người không thể làm được: Thiên nhiên. (4) Quãng trong ngày: Thiên bất tảo lạp (ngày đâu còn sớm). (5) Ngày: Nhất thiên (một ngày). (6) Mùa: Xuân thiên (Mùa Xuân). (7) Phàm cái gì không thể thiếu được: Dân dĩ thực vi thiên (ăn là thứ cần của dân). (8) Tôn giáo gọi chỗ chí thiện chí mỹ: Thiên quốc (nước trời). (9) Họ Thiên. (10) Trên đầu: Thiên kiều (cầu cạn); Thiên linh cái (điểm cao trên đầu, tức điểm cao trên đầu). (11) Mệnh trời: Thiên niên (số năm Trời cho). (12) Lương tâm: Thiên lương. (13) Vua: Thiên hoàng. (14) Ðàn bà gọi chồng là thiên, cũng gọi là sở thiên.

Nghĩa Nôm: Bửng đậy quan tài.

1.2. Viên chữ Hán là 圓. Có nghĩa: dt. (1) Chỉ về hình thể, từ giữa ruột đo ra đến ngoài vành chỗ nào cũng đều nhau: Viên chu (vòng tròn). (2) Đơn vị tiền tệ của Trung Quốc, đồng: Thập viên (mười đồng). (3) (Phật Giáo) Chết: Viên tịch (nhà sư chết). (4) Tròn, cái không lộ cạnh góc ra: Viên thông. (5) Ðầy đủ: Viên mãn. (6) Họ Viên. đt. (7) Bào chữa: Tự viên kỳ thuyết (tự bênh vực lý lẽ của mình). (8) Nói khoé: Viên hoạt. tt. (9) Hình tròn: Viên hình.

Nghĩa Nôm: (1) Vật nhỏ có hình cầu: Viên đạn. (2) Vo tròn: Viên thuốc.

1.3. Địa: Chữ Hán là地. Có nghĩa là dt. (1) Trái đất, đựng chứa muôn vật cõi đời: Địa cầu. (2) Phần nổi cao hơn biển: Sơn địa (miền đồi núi). (3) Đất cầy: Mạch địa (ruộng lúa mạch). (4) Sàn (nhà): Thuỷ nê địa (sàn xi măng). (5) Nơi chốn: Địa chỉ. (6) Khu đất: Địa phương. (7) Vị trí: Bất bại chi địa (trong vị trí không thể thất bại). (8) Quãng cách: Nhất lý địa (xa một dặm). (9) Ðịa vị. (10) Khu vực: Quang Nam các địa (các khu vực của Quang Nam). (11) Chất của vật liệu: Chất địa. đt. (11) Ý chí, chủ trương: Kiến địa. Trt. (12) Một cách: Khinh khinh địa (cách nhẹ nhàng).

Nghĩa Nôm: (1) Ác: Độc địa. (2) Lòng dạ: Tâm địa tốt. (3) Tên: Ông Địa. (4) Tiền (tiếng bình dân): Bắt địa (ép cho tiền).

1.4. Phương: chữ Hán là方, có nghĩa: dt. (1) Vuông, Vật gì hình thể ngay thẳng: Phương chánh. (2) Hướng: Đông phương. (3) Ðạo đức: Nghĩa phương hữu huấn (có dạy về đạo nghĩa). (4) Nghề thuật: Phương sĩ (kẻ chuyên về một nghệ thuật như bùa thuốc tướng số). (5) Phương thuốc: Bí phương (phương thuốc bí truyền). (6) Nơi, chốn: Viễn phương (nơi xa). (7) Phe phái: Song phương (hai bên). (8) Lối làm việc: Phương pháp. (9) Ðơn thuốc: Xử phương (cho đơn thuốc). (10) Tấc lòng: Phương thốn dĩ loạn (lòng rối bời bời). (11) Nhà sư: phương trượng (nhà sư quản nhậm chùa). (12) Họ Phương. đt. (13) (Toán) Luỹ thừa: Bình Phường (luỹ thừa 2). đt. (14) Trái: Phương mệnh (trái mệnh lệnh). (15) Hai vật cùng đi đều: Phương chu (hai chiếc thuyền cùng đi đều). tt. (16) Của địa phương: Phương ngôn (tiếng nói của đại phương). trt. (17) Vào lúc này: Phương kim (hiện nay). (18) Mới, vừa: Phương tài (vừa mới). (19) Thong thả, khoan thai: Phương bộ (thong thả cất bước).

Nghĩa Nôm: (1) Ðấu đong thóc có lượng thay đổi tuỳ miền. (2) Liên từ phương chi (mở đầu một câu hay một cụm từ giúp câu quyết thêm mạnh): Cha mẹ nó còn bỏ rơi phương chi là anh em bạn bè.

  1. 2.Thiên viên địa phương.

2.1.  Vũ trụ quan.

Vào cuối thế kỷ thứ 5, trong cuốn Thiên Văn Chí của Tấn Thư [1] có phân biệt ba trường phái về quan niệm cấu trúc vũ trụ. Đó là thuyết cái thiên [2] (蓋天) (trời như cái nắp đậy), tuyên dạ [3] (宣夜) (đêm tối lan tràn khắp nơi, không trung vô tận) và hồn thiên [4] (渾天) (trời đất có hình dạng như quả trứng: đất như lòng đỏ của trứng, trời bao bọc bên ngoài đất, như trứng bọc lòng đỏ vậy). Các nhà hiền triết muốn tìm đường cho hoàng đế lên trời, để được trường sinh bất tử, nên những lý thuyết này, tuy có mục tiêu khoa học để tìm hiểu vũ trụ, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng siêu hình và chiêm tinh học. Ngoài ba trường phái đó còn năm phái chi nhánh nữa là: thuyết tứ thiên (四天) do Hiên Hồ (祆胡) ngụ ngôn và thuyết phương thiên (方天) của Vương Sung thời Đông Hán (25-220); thuyết hiên thiên [5] (軒天) của Ngô Diêu Tín thời Đông Ngô (222-280); thuyết khung thiên [6] (穹天) do Ngu Tủng nghĩ ra và thuyết an thiên (安天) của Ngu Hỷ trước thuật thời Đông Tấn (317-420). Thuyết cái thiên (蓋天) cổ nhất, hình dung vòm trời như một cái nắp hình bán cầu và trái đất như một cái bát úp ngược cùng một trung tâm. Phía dưới chân trái đất không phải hình tròn mà vuông như một bàn cờ, có lẽ là do quan niệm có bốn phương trời (đông, tây, nam, bắc).

2.2. Thiên viên địa phương (Trời tròn đất vuông).

Thuyết cái thiên tạo ra thuyết thiên viên địa phương, mà thiên viên địa phương là một thể hiện của thuyết âm dương. Người xưa gọi trạng thái đất chưa hình thành, còn trong hỗn độn là thái cực. Thái cực sinh lưỡng nghi, phân chia âm dương, hình thành trời đất. Người ta gọi vũ trụ đầy tinh tú là trời, nơi đặt chân để canh tác và sinh sống là đất. Các tinh tú không ngừng di chuyển theo vòng tròn, vô cùng vô tận; trái đất như một vật thể hình vuông không di động, chuyên chở chúng ta. Nên khái niệm thiên viên địa phương nẩy sinh. Nhìn vào thế giới tự nhiên, những gì thuộc dạng tròn thì hiếu động, không ổn định; những gì thuộc hình vuông đều có đặc tính tĩnh tịch, giống như trái đất. Động là dương, tĩnh là âm, nên trời tròn tượng trưng dương, đại diện cho tất cả những gì tích cực, chủ động, như: nhật, ban ngày, cương, nam, quân, chủ, phu, thượng, tiến, động, chánh… Đất vuông tượng trưng cho âm, đại diện cho những gì tiêu cực, bị động, như: nguyệt, ban đêm, nhu, thuận, nữ, triều thần, vợ, nhỏ, hạ, thoái, tịnh, phụ… Trời tròn đất vuông là một chú giải cho “thiên nhân hợp nhất”. Văn hoá truyền thống của người Trung Hoa chủ trương “thiên nhân hợp nhất”, chú trọng sống theo tự nhiên.

Thật ra thuyết cái thiên có hai giai đoạn, thời Đông Chu (thế kỷ V TCN) thuyết thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông) cho rằng trái đất đứng yên, mặt trăng, mặt trời và tinh tú chuyển vận trên bầu trời. Sang đến thời Chiến Quốc thuyết này mới phát triển thành thuyết cho rằng vòm trời hình bán cầu, trái đất như một cái bát, trái đất gồm đường cung tròn. Nên thiên viên địa phương tiếng Việt dịch là trời tròn đất vuông chỉ đúng trong một giai đoạn của thuyết cái thiên.

"Trời xanh như tán lọng tròn,

Đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông" [7]

Chữ phương trong "thiên viên địa phương" còn có nghĩa là phương hướng, nên người ta nói “tam thiên lưỡng địa” (trời ba đất hai). Tam là hiện tượng của trời có nhật, nguyệt, tinh tú là ba, đông tây hai nơi vốn là nơi mặt trời mọc và lặn là lưỡng địa.

Hơn nữa, khi con người đi trên mặt đất, cảm thấy trời là tròn và dưới đất là cũng tròn, nhưng mặt đất là bằng phẳng. Chữ phương ở đây là có nghĩa là bằng phẳng, nên không phải là trời tròn đất vuông nữa.

Tuy nhiên quan niệm trời tròn đất vuông vẫn có ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống người Á Đông. Cứ thấy mẫu đồng xu tròn bằng đồng, giữa có lỗ vuông là người ta nhận ra đó là tiền của các xứ viễn đông ngày xưa. Thứ tiền này ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ IV trước Công Nguyên.

 

troitr2(1)troitro3 (2)troitron (4) (3)

Đồng tiền của người Trung Hoa (1,2) và Uyghur (3) xưa

troitron5(1) troitron (6)(2) troitron (7)(3)

troitron (8)(4)troitron (9) (5)troitron 10 (6)

Đồng tiền của người Việt thời nhà Nguyễn:

Tự Đức (1), Đồng Khánh (2), Khải Định (3)

Thành Thái (4), Duy Tân (5,) Bảo Đại (6)

Gần đây nhất, hai kiến trúc điểu sào (tổ chim) và thủy lập phương (khối vuông nước) mang tính biểu tượng tại thế vận hội Bắc Kinh cũng thể hiện quan niệm trời tròn đất vuông của người Trung Hoa. Điểu sào thể hiện dương cương và thủy lập phương thì rõ ràng là âm và mềm dẻo. Hai kiến trúc này biểu tượng cho âm dương hài hòa, và Trung Quốc muốn dựa vào đó để có thể thắng lớn trong kỳ thế vận hội 2008.

 troitron11

Kiến trúc điểu sào và thủy lập phương.

 

Ngày Tết trên bàn thờ tổ tiên của mọi gia đình người Việt có mâm ngũ quả và cặp bánh truyền thống ngàn đời không thể thiếu, đó là cặp bánh chưng, bánh dày. Hình dạng bánh chưng thì vuông và bánh dày thì tròn. Đây cũng là một thể hiện của quan niệm trời tròn đất vuông.

troitron12troitron3

Bánh chưng và bánh dày

Khái niệm trời tròn đất vuông là quan niệm triết học không phải là ý niệm vật lý:

Trời

Đất

Ý chí

Đức

Đức độ

Minh triết

Bản năng

Tài

Lý trí

Khoa học

Đó là vài thí dụ để hiểu ý niệm trời tròn đất vuông trong Dịch học.

  1. 3.Hội nhập văn hoá ?

Bàn thờ mới của nhà thờ Chánh Tòa Sài Gòn cũng muốn thể hiện quan niệm trời tròn đất vuông đó. Chúng ta thử xem xét lại tổng thể cấu trúc của cung thánh. Mặt bàn thờ là tròn, chân bàn thờ là vuông. Về bàn thờ thì đúng rồi. Nhưng tam cấp lên bàn bàn thờ thì rất lạ: Nền có hình bát quái, lại tách ra thành ba phần, phần thứ nhất có ba bậc thang, phần thứ hai có bốn bậc, sát chân bàn thờ một bậc. Bàn thờ làm bằng đá, chân bàn thờ nằm ngay trung tâm bát quái.

 troitron

Phần thứ nhất có ba bậc thang.

 troitro1

Phần thứ hai có bốn bậc thang, sát chân bàn thờ có một bậc.

Phần thứ nhất của tam cấp có ba bậc thang, ba bậc là dương, phần thứ hai có bốn bậc thang, bốn là âm, phần thứ ba có một bậc thang, một là dương. Về phần này cũng có phần đúng là có âm có dương, nhưng dương lại nhiều hơn âm.

Chân bàn thờ hình vuông, là âm, nằm ngay trung tâm của hình bát quái, thì hơn lạ, vì trung tâm của bát quái phải là thái cực, tức là vòng tròn có âm dương. Như thế triết lý âm dương đã bị phá vỡ.

Bàn thờ bằng đá là quan niệm lâu đời của Giáo Hội, bàn thờ phải bền vững, nhưng không phải quan niệm của người Á Đông. Bàn thờ Á Đông phải làm bằng gỗ, để được ấm cúng, nhiệt thành. Còn đá thì lạnh lẽo, âm, bị động.

Những năm gần đây, nhà thờ phương Tây thích làm bàn thờ có mặt tròn, biểu tượng cho hiệp thông của giáo xứ, gia đình giáo xứ sum họp. Nhưng người Á Đông hiếm khi dùng bàn thờ tròn để tế thần. Điểm này, còn tùy thuộc vào quan niệm của chúng ta về thánh lễ. Nếu xem thánh lễ như một bữa tiệc, thì bàn thờ tròn còn giải thích được như biểu tượng của sự sum họp gia đình. Nếu thánh lễ là một lễ tế thì không thể dùng bàn thờ tròn.

  1. 4.Kết luận.

Triết lý Đông Phương đã có một lịch sử lâu đời và ý nghĩa rất sâu rộng. Chúng ta không thể chỉ bám vào một hai điểm của triết lý đó thì gọi là hội nhập văn hoá, phải có một cách nhìn tổng thể. Những suy nghĩ trên chỉ là một phát họa thiển cận mà thôi. Tôi thường tự hỏi, Giáo Hội khuyến khích chúng ta phải hội nhập văn hóa, nhưng nếu chúng ta không nỗ lực tìm hiểu thêm về văn hóa của mình là gì thì làm sao hội nhập?

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

_______________________________________________________

 

Ghi chú:

[1] Tấn Thư là một trong 24 cuốn lịch sử cổ đại của Trung Quốc, do Phòng Huyền Linh và 20 người bạn (đời Đường) viết, ghi chép sử từ Tam Quốc (220) đến Cung Đế Nguyên Hy năm thứ hai của triều Đông Tấn (420). Tấn Thư hiện này còn 130 quyển. Quyển 11, 12, 13 trong Tấn Thư, gọi là Thiên Văn Chí Thượng, Trung, Hạ. Thiên viên địa phương nằm trong cuốn Thiên Văn Chí Thượng.

[2] Cái (): cái nắp đậy, che.

[3] Tuyên (宣): rao cho mọi người nghe. Dạ (夜): đêm tối.

[4] Hồn (): hàm ở trong mà không lộ ra, như chữ hỗn ().

[5] Hiên (軒): cao cà.

[6] Khung (穹): vòm tròn; bầu trời.

[7] "Thương thiên như viên cái, Lục địa như kỳ cục" (Trời tròn như lọng che, Đất xoay như cuộc cờ): Hai câu đầu trong bài thơ của Gia Cát Lượng được La Quán Trung chép trong "Tam quốc diễn nghĩa" khi ba anh em Lưu Bị cùng đoàn tuỳ tùng vừa tới trước gò Ngọa Long, thấy xa xa có mấy người đang cày ruộng bên suờn núi, miệng hát nghêu ngao (Hồi 37).