• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Công phúc - công trạng

Trong thuật từ công trạng, công có nghĩa là việc đáng kể (4).

  1.  Trạng, chỉ có 1 chữ Hán, nghĩa là dt. (1) Dạng bên ngoài: Kỳ trạng bất nhất (hình dạng khác nhau). (2) Tờ ghi để nhớ: Công trạng (bản ghi công). (3) Tình hình: Trạng huống. (4) Văn thư trình bày sự việc: Tố trạng. (5) Bằng giấy: Uỷ nhiệm trạng. (6) Đỗ đậu thi đình: Đỗ trạng. tt. (7) Diển tả: Bất khả danh trạng (không lời nào kể xiết).

Nghĩa Nôm: dt. (1) Có điểm hơn người: Trạng rượu. (2) Tên loại cây có cành đỏ: Cây trạng nguyên.

Trong thuật từ công trạng, trạng có nghĩa là tờ ghi để nhớ(3).

  1.  Nghiệp, có 4 chữ Hán, đây là chữ, nghĩa là: dt. (1) Việc thành công lớn, sự nghiệp, công lao: Sáng nghiệp. (2) Chương trình học: Tốt nghiệp. (3) Nghề: Các hãng các nghiệp. (4) Tài sản: Gia nghiệp. (5) Công cuộc kinh doanh: Nghiệp chủ. (6) Việc làm để kiếm ăn: Thất nghiệp. (8) Việc làm vào những giờ rảnh: Nghiệp dư. (9) Duyên kiếp trước để lại, từ ngữ Phật học: Nghiệp chướng. đt. (10) Chọn nghề: Nghiệp nông. Pht. (11) Đã, rồi.

Trong thuật từ công nghiệp, nghiệp có nghĩa là việc thành công lớn (1).

  1. Phúc,có 14 chữ Hán, đây là chữ , nghĩa là dt. (1) Những sự tốt lành. (2) Thịt phần tế. (3) Rượu tế còn thừa. (4) Vén vạt áo (lối đàn bà lạy). (5) Họ Phúc. đt. (6) Phù hộ: Phúc trợ. tt. (7) May mắn: Phúc tướng.

Trong thuật từ công phúc, phúc có nghĩa là những sự tốt lành (1).

  1. Nghĩa các thuật từ công lao, công trạng, công nghiệp, công phúc.

- Công lao: việc vất vả đáng ghi nhớ.

- Công nghiệp: việc thành công lớn, đáng kể.

- Công trạng: bản ghi việc đáng kể

- Công phúc: những điều tốt lành đáng kể.

Theo chúng tôi từcông lao nói về công sức chung chung mà thôi. Còn hai thuật từ công nghiệpcông trạng có ý nghĩa tương đồng với nhau, chỉ những công việc vất vả nào đó - không nhất thiết là hành vi luân lý - đáng tưởng thưởng và ghi nhớ. Những thuật từ này thường được sử dụng để dịch thuật từ meritum trong Công Giáo[7]. Ngày nay, từ công nghiệp ít được hiểu theo nghĩa ta quen hiểu trước đây (merit), nhưng thường được hiểu như kỹ nghệ (industry), nghĩa là “ngành chủ đạo của nền kinh tế quốc dân hiện tại, có nhiệm vụ khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến tài nguyên và các sản phẩm nông nghiệp thành tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùn[8]”, (ví dụ: phát triển công nghiệp). Vì vậy, nên chăng chúng ta tránh dùng thuật từ công nghiệp để khỏi mang nghĩa hàm hồ.

Từ công phúc không thấy có trong các từ điển ngoài Công Giáo, nhưng được sử dụng trong giới Công Giáo[9], có lẽ đây là một thuật ngữ riêng của Công Giáo.

Chúng ta lưu ý đến chữ phúc trong thuật từ này. Dựa trên mặt chữ, có thể hiểu công phúc là “những điều tốt lành đáng kể”. Việc đáng kể ở đây là một hành vi nhân linh, có tính luân lý: tốt lành. Mặt khác, theo triết lý Đông phương, phúc bao hàm tất cả những điều thiện hảo mà con người có thể hình dung hay mơ tưởng. Kinh Thi chia ra năm phúc: (1) Trường thọ (sống lâu dài, không đoản mệnh), (2) Phú quý (tiền của rất nhiều, địa vị tôn quý), (3) Khang ninh (thân thể khoẻ mạnh, tâm hồn yên lành), (4) Hiếu đức (tính lương thiện, nhân hậu, bình tĩnh), (5) Thiện chung (‘chết lành’: có thể tiên liệu thời kỳ chết của mình).

Theo Lục thư, chữ phúc () thuộc “hình thinh[10]”. Viết bộ thị (còn đọc là kỳ) và thinh “bức” (bị), có nghĩa là phù hộ, thần ban điều lành giúp con người, nên viết bộ thị () và dùng “bức” () với âm “bị”, có nghĩa là “mãn” (nghĩa là có đầy đủ, không gì không thuận lợi là phúc), tức là: trời đất ban xuống những điều tốt lành để thoả mãn nguyện vọng của con người, nên dùng thinh bức.

Thuyết Văn dùng chữ phúc với nghĩa là “bị” (bị là mọi việc đều thuận lợi). Chữ phúc () đọc âm “phúc”, có nghĩa là mình xin cho được nhiều phúc.

4. Kết luận.

Thuật từ công phúc có ý nghĩa súc tích hơn là công nghiệpcông trạng, vừa nói lên ‘công trạng’ của con người đã làm việc lành phúc đức đáng thưởng, đồng thời cũng hàm chứa ý niệm việc lành phúc đức đó có khởi nguyên từ ân sủng của Thiên Chúa: “Các việc lành phúc đức là hoa trái của việc công chính hóa”, và “việc công chính hóa được thực hiện hoàn toàn là do ơn Chúa”. Như thánh Augustinô đã nói: “Eorum coronando merita Tua dona coronas: Khi tuyên dương công phúc của các ngài, Chúa tuyên dương chính hồng ân của Chúa[11]”.

Như vậy, công phúcdiễn tả tình trạng con người trước mặt Thiên Chúa, dù có công gì đi nữa, cũng nhờ ơn phúc của Chúa mà thôi. "Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Chúa ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi". (1Cr 15,10)

_______________________________________________________

 

Chú giải:

[1] x. F. Gĩmez Ngơ Minh S.J.: SUY TƯ THẦN HỌC NGÀY NAY VỀ ƠN CỨU ĐỘ, Hợp Tuyển Thần Học, Số 29&30, năm XI (2001), trang 494-500.

[2] xem. Hervé Coathalem, THÉOLOGIE PROTESTANTE, Giáo hồng học viện Đà Lạt, 1968, trang 4-5.

[3]xem:http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/chrstuni/documents/rc_pc_chrstuni_doc_31101999_cath-luth-joint-declaration_en.html.

[4] xem: Joint Declaration On The Doctrine Of Justification: Tuyên Ngôn chung về Tín lý Công chính hóa, số 19 và 37.

[5] sđd., số 38.

[6] sđd., số 21 và 39.

[7] Ví dụ: Các bản dịch THÁNH CÔNG ĐỒNG CHUNG VATICANÔ II (Lumen Gentium, Số 49, 60); SÁCH LỄ RÔMA 1971, 1992, 2005 (Kinh Tiền Tụng Lễ Các Thánh I, Kinh Nguyện Thánh Thể I, Số 86, 96); SÁCH GIÁO LÝ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO của UB.GLĐT, 2010, Số 2006-2011 vv...

[8] Hoàng Phê (chủ biên), Viện Ngôn Ngữ Học, TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, nxb Đà Nẵng, 2005.

[9] Ví dụ: Lm. Hồng Phúc, CSsR, ĐIỂN NGỮ ĐỨC TIN CÔNG GIÁO, 1996; Bản dịch SÁCH GIÁO LÝ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO của UB Giáo Lý GP. TPHCM, 1997, Số 2006-2011; TOÁT YẾU SÁCH GIÁO LÝ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO của UB.GLĐT, 2007, Số 426.

[10] Sáu quy tắc tạo nên chữ Hán gọi là Lục thư: Tượng hình, chỉ sự, hội ý, hình thinh, chuyển chú và giả tá.

[11] J.P. Migne, Patrologia latina 37, 1321.

LM. Stêphanô Huỳnh Trụ