• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Nhập thế, nhập thể?

Lễ Giáng Sinh sắp đến, đọc về biến cố truyền tin, chúng ta thấy chương 1 và 2 của Phúc Âm Luca là một trong những ghi chép đẹp nhất và đầy thi vị nhất. Con Thiên Chúa làm người và ở giữa chúng ta là ân huệ lớn nhất Thiên Chúa đã ban cho loài người. Việc Con Thiên Chúa xuống thế làm người, tiếng Anh gọi là incarnation, tiếng Việt thường dịch là nhập thể. Lại có người không phân biệt được thuật từ nhập thể (incarnation) và nhập thế (engagement). Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của những thuật từ này.

1. Incarnation. Thuật từ này do bởi chữ La tinh in: trong, nhập, và caro: xác thịt. Từ này có hai nghĩa:
- Nghĩa hẹp: ám chỉ việc Ngôi Lời mặc lấy thân xác loài người (Ga 1,14; GLCG 461). Đây là tín điều của người Công Giáo, tin rằng đó là ơn Chúa ban, qua đó Con Chúa mặc lấy nhân tính loài người, kết hợp với thần tính của Ngôi Hai Thiên Chúa, và trở thành người, nên Chúa Kitô vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Thần tính kết hợp với nhân tính (Cv 20, 28; Rm 8, 32; 1 Cr 2, 8; Dt 2, 11-14; 1 Tm 3, 16; Gl 4, 4). Phúc Âm Gioan nói rất rõ: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Việc kết hợp này là từ bản thể, hai bản tính không hòa lẫn nhau, nhưng có tính cách vĩnh viễn. Thuật từ này đôi khi cũng được hiểu theo nghĩa hẹp hơn: để chỉ lúc Ngôi Lời nhận lấy xác thịt trong lòng Đức Trinh Nữ Maria.
- Nghĩa rộng: Từ những năm 1930-1935, thuật từ này mang một ý nghĩa mới, nhất là trong giới Công Giáo Tiến Hành và truyền giáo: diễn tả ý chí hội nhập cách sâu xa vào tinh thần, cử chỉ, ngôn ngữ và phong tục của một dân tộc chưa hoặc đang trở lại Kitô Giáo. "Nhập thể" nói lên tiến trình Kitô Giáo thấm nhập vào các nền văn hóa, thâu nhận tinh hoa các dân tộc (x.GLCG 854, 1204): "Nỗ lực loan báo Tin Mừng phải dẫn đến một tiến trình hội nhập văn hóa, nhằm mục đích làm cho Tin Mừng nhập thể (incarnate) trong nền văn hóa các dân tộc" (x. Thông điệp Redemptoris Missio, số 52-54).

2. Engagement: (engage the world; engagé dans le monde), do động từ engage (tiếng Anh thời trung cổ: engagen): cầm cố một cái gì đó để bảo đảm rằng sẽ hoàn trả một món nợ; từ động từ tiếng Pháp cổ là: engagier (en-: trong; + gage: sự cầm cố) nguyên thuỷ bởi tiếng Đức. Từ này có nhiều nghĩa: (1) (Sự) hứa hẹn, ước hẹn, cam kết, ràng buộc, hứa hôn; (2) (Sự) hứa gặp; cuộc hẹn; (3) (Sự) thuê mướn (người làm...), sự tuyển dụng; (4) (kỹ thuật) Sự gài (số...); (5) (quân sự) Sự giao chiến; trận đánh. Theo nghĩa Công Giáo, thuật từ engagement cũng được dịch là "dấn thân", "nhập thế", do E. Mounier đưa ra đã trở nên một trong những từ chủ yếu của Công Giáo tại Pháp từ những năm 1936-1950, nói lên hành động của Kitô hữu bước vào đời sống dân sự, chính trị, chức nghiệp và các quan hệ nhân bản với tất cả niềm tin tôn giáo của mình.(1)

3. Nghĩa những chữ: nhập, thể, thế.

- Nhập. Chỉ có một chữ Hán, thuộc loại chỉ sự, từ trên ghim vào là nhập, nghĩa là dt. (1) Một trong bốn thanh điệu của tiếng Hán: bình, thượng, khứ, nhập : nhập thanh; đt. (2) Lợi tức: tuế nhập (lợi tức hằng năm); (3) Vào, từ ngoài đi vào: nhập cảnh; (4) Đem vào: nhập thương (vào kho); (5) Tham gia: nhập ngũ; (6) Xuống: nhật nhập nhi tức (Mặt trời lặn xuống thì nghỉ); (7) Thời gian di chuyển: nhập hạ (chuyển vào mùa hạ); (8) Hợp với: nhập tình nhập lý (hợp tình hợp lý); (9) Đến: nhập dạ (vào đêm); (10) Nộp tiền: nhập cổ (nộp tiền tham gia cổ phần); (11) Hợp với: nhập thời; (12) Hợp: nhập điệu (hợp với âm điệu).

Nghĩa Nôm: (1) Rối rít, không rõ rệt: sổ sách nhập nhằng; (2) Giữa sáng và tối: trời đã nhập nhoạng. (3) Nghĩa rộng: (truyền thuyết) Ứng vào xác một người khác: quỷ nhập.
- Thể. Có những chữ Hán này:
, (), , (), , . Ở đây là chữ, có nghĩa là dt. (1) Toàn thân của người hay động vật: thân thể; (2) Tứ chi: tứ thể; (3) Thân mình, hoặc một phần thân mình: chi thể; (4) Toàn bộ sự vật: tổng thể; (5) Cách thức: thể lệ, văn thể; (6) Thể chế: quốc thể; (7) Họ Thể; đt. (8) Kinh nghiệm riêng: thể hội (hiểu biết riêng, lĩnh hội); (9) Đặt mình vào đấy mà xét: thể tuất (đặt mình vào đấy mà xót thương, thông cảm đồng tình); (10) Kiểu, lối: tự thể (kiểu chữ); (11) Trạng thái tồn tại của vật chất: cố thể (thể rắn); tt. (12) Thuộc về thân thể: thể trọng; Pht. (13) Đích thân: thể hành.
Nghĩa Nôm: (1) Sức làm nổi: có thể; (2) Có lẽ: có thể sai; (3) Nể: thể tình.
- Thế. Có nhiều chữ Hán
, , , , , , , , , , , , , , , , , , , , trong trường hợp này là chữ . Chữ này thuộc loại hội ý, có ba chữ (thập, nghĩa là mười) thời xưa coi một đời người có ba mươi năm, nên liên kết ba chữ thập để thể hiện một đời (thế). Chữ này có những nghĩa sau: dt. (1) Ba mươi năm: nhất thế (một đời); (2) Từ đời cha sang đời con: thế tập ; (3) Thời đại: thời thế; (4) Họ nhà vua thay đổi: thịnh thế (đời thịnh); (5) Sự giao tiếp của xã hội: thế cố (thói đời); (5) Con trưởng của chư hầu: thế tử; (6) Chỗ quen cũ: thế giao (đời chơi với nhau); (7) Thế giới; (8) Họ Thế; tt. (9) Đời trước truyền đến đời sau: thế y (ngành y do đời trước truyền lại); (10) Thuộc về thế giới: thế sự. 

4. Nhập thể, nhập thế.

4.1 Nhập thể. Nếu chỉ dịch theo nguyên chữ La tinh thì không sai, vì in là nhập, caro là xác thịt, vậy incarnation là nhập vào xác thịt hay nhập thể (thể xác, thân thể). Nhưng như phần trên đã nói, nhập có nghĩa ứng vào xác một người khác, dân gian hiểu quỷ nhập hay ma nhập chỉ là mượn xác của người khác, không có gì hơn. “Thực ra từ ngữ nhập thể có nhiều khuyết điểm, chữ nhập gợi ra hình ảnh một vị thần linh nhập vào trong một người hay một thực tại nào đó. Đột nhập chứ không đồng nhất, không trở nên, nghĩa là vẫn có khoảng cách hữu thể. Vả lại nhập vào là hành vi có tính cách nhất thời, vì nhập vào rồi sẽ xuất ra. Dù thời gian nhập vào kéo dài bao lâu đi nữa, thời gian ấy vẫn qua đi, và như vậy thì không diễn tả đúng mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, trở nên một con người cụ thể là Giêsu Nazareth”(2). Trong khi đó incarnation, chúng ta biết là Đức Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật, Thiên Chúa thật đã trở thành người thật. Và việc kết hợp đó có mấy đặc tính: Không lẫn lộn, không phân chia, không thay đổi, không tách rời.

4.2. Nhập thế.

Theo nghĩa hẹp, nhập thế là vào đời, bước vào cuộc đời (3), ít ai sử dụng theo nghĩa "sinh ra đời", nhưng thường được dùng theo nghĩa là đi ra gánh vác việc đời, tham gia vào các mặt hoạt động của xã hội. Theo nghĩa triết học, nhập thế có thể xem là một thái độ hay quan điểm nhìn nhận sự vật hữu hình là có thật, có giá trị một cách tương đối hay tuyệt đối. Đó cũng là một khía cạnh quan trọng trong các nền triết học của Đông phương (4). Muốn giúp đời, muốn canh tân cuộc sống, thì phải vào đời, tức là phải nhập thế, đối lập với xuất thế.
Như vậy, hai thuật từ nhập thể và nhập thế hoàn toàn khác biệt nhau, một đàng là thân xác con người (thể) và một đàng là thế giới nhân sinh (thế).
Có người đề nghị dùng thuật từ "hiệp thể" hay "hợp thể" thay cho từ "nhập thể": Vì Con Thiên Chúa, sau khi giáng sinh, thì vừa là Thiên Chúa, vừa là người, hai bản thể kết hiệp

(hợp) với nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng không đúng, vì "hiệp thể" hay "hợp thể" là một bản thể mới kết hợp từ hai (hay nhiều) bản thể lại với nhau. Trong khi với mầu nhiệm nhập thể, chúng ta tuyên xưng rằng "cùng một Đức Kitô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất" (DS 30l-302). Trong sự kết hợp kỳ diệu của mầu nhiệm Nhập Thể, "bản tính nhân loại được đảm nhận, chứ không bị tan biến" (x. GS 22, 2).

5. Kết luận.

Về các mầu nhiệm ngôn ngữ thường tỏ ra bất lực. Incarnation hay nhập thể tiếng Hoa dịch là “Thánh Tử giáng sinh” hay “Đạo thành nhục thân” (Ngôi Lời thành xác thịt), cũng chỉ nói lên phần nào mầu nhiệm Ngôi Lời "đi vào bên trong" (nhập vào) một thân xác phàm nhân, chứ không thể nói lên được ý niệm "mặc lấy", "đảm nhận" cả một bản tính nhân loại với một linh hồn thật với mọi hoạt động tri thức và ý chí, và một thân xác thật của con người.
Có người dùng thuật từ "làm người" (hay "thành nhân") để thay thế thuật từ "nhập thể". Theo chúng tôi thuật từ "làm người" vừa đơn giản, dễ hiểu, nhưng cũng diễn tả được đủ ý nghĩa. Nói "Mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người" thì dễ hiểu hơn là "Mầu nhiệm Con Thiên Chúa nhập thể". Chúng ta cũng phải hiểu thêm rằng "trước sau Người vẫn là Thiên Chúa nhưng Người đã nhận lấy thân phận thế nhân" (5), cũng tương tự như nói: nữ tu làm y tá, hay bác sĩ làm bộ trưởng...

 


Không chỉ Nho Giáo, khái niệm nhập thế còn được nói đến rất nhiều trong Phật Giáo và Lão Giáo, cũng như trong Ấn Giáo và triết lý Việt Nam nữa (xin đọc: TRIẾT LÝ XUẤT THẾ VÀ NHẬP THẾ TRONG THI CA VIỆT NAM, bài của Nguyễn Đăng Thục trên http://www.dunglac.org).

x. Điệp ca Kinh Sáng ngày 01/01; Thánh Lêơ Cả, Bài giảng 2l, 2-3.

SUY TƯ VỀ MẦU NHIỆM NHẬP THỂ THEO LƯỢC ĐỒ THẦN HỌC CỦA CHALCÉDOINE của ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc, Giám Mục Giáo Phận Mỹ Tho.

Từ Điển Lạc Việt dịch "nhập thế" là: "enter into life, start out in life"

Olivier de La Brosse & Ntg, DICTIONNAIRE DE LA FOI CHRÉTIENNE, Cerf, Paris, 1968.

 

Lm Huỳnh Trụ
Peter Tâm Thành biên tập

CCS Saigon