• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Đêm Chớm Ngày Tàn

“Đêm chớm ngày tàn, theo tiếng xe về, lăn về viễn phố
 “Em hỡi sương rơi, ngoài song đêm hạ, ôi buồn phố xá
  “Hoang liêu về chết tha ma, tiếng chân gõ guốc xa xa
  “Người xa vắng người, người xa vắng người...
(Thơ: Cung Trầm Tưởng - Nhạc: Phạm Duy)

(1Phêrô 4: 4)

 Ôi thôi! là “Nỗi buồn phố xá hoang liêu về chết trong ta” và trong người, cả một đời!

Ối chà, là “tiếng gõ guốc xa ca, người xa vắng người!” Những xa và vắng nhiều thế hệ trong đó có cả tôi và nhiều người. Cũng dễ hiểu.

 Hôm nay đây, tôi và người vẫn xa và vắng nhau vì cứ mãi sống kiểu “bên ni bên nớ”, lại còn cảm nhận chuyện “sương rơi ngoài song đêm hạ” hoặc “hoang liêu về chết trong ta” cả hồn mình, hồn người, ở trong đời.

 Hôm nay đây, dịch Côrôna vi-rút cũng đã, đang và sẽ còn giết ta và nhiều người không chỉ mỗi thân xác yếu mềm thôi, mà cả tấm lòng nhân hậu vốn là sở trường của tôi, của bạn của nhiều người trong thánh Hội của Chúa.

 Chẳng thế mà, tác giả nọ còn gióng lên lời tra hỏi nghe qua đã thấy sợ, vì nó cứ luẩn quẩn trong đầu người đọc, mãi không thôi. Lẩn cẩn chỉ một câu hỏi giản đơn như bậc thày ở xứ người từng viết lên cuốn sách có đầu đề là “Did Jesus exist” (Phải chăng “Đức Giêsu từng hiện hữu?”) Nghe hỏi, người viết thấy như có lời ca mà nghệ sĩ cứ hát mãi, những lời rằng:   

“Em có nghe rồn rã bước ai vất vả bóng ai chập chờn?
Hồn ai cô đơn tìm về ấm cúng
Em có nghe bi ai tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài, ăn mày xán lạn ngày mai
Đêm ni ai say đất lở, em ơi có nghe rạn vỡ
Vạn mảnh ly tan theo chuỗi cười.
Bên tê thành phố tráng lệ
Giai nhân nằm khoe lõa thể
Bên ni phố vắng ôi lòng ngoại ô.

Em có nghe hồ như bước ai gõ nhịp bước ai giang hồ?
Hẹn ai bên ni dài in ngõ cũ
Em có nghe bên ni lạnh như bên nớ?
Phút giây chia lìa, trong lòng vẫn phải đèo mong
Hai tâm linh giam kín lại
Bấm đốt ngón tay chờ đợi
Chờ ngày con thơ, thơ cũng ra đời
Em ơi ngoài kia liếp ngỏ
Sương rơi ngoài song khép hở
Bên trong kín gió ấm ơi là tình.”

(Thơ: Cung Trầm Tưởng- Nhạc: Phạm Duy – bđd)

À thì ra, đây là lời ngỏ cứ lan man, tản mạn trong đầu người đọc hoặc người viết, chí ít là khi tác giả lại cứ thanh minh rằng:

“Thực tế mà nói, Đức Giêsu không là nhân-vật lịch sử riêng-tư của thế kỷ 21 chuyên nói thứ ngôn ngữ của người Mỹ Đức, Anh hoặc nước nào khác. Ngài cũng không nhất thiết phải là và không là người Do-thái sống tại Palestine ở thế kỷ đầu đời nào đâu. Ngài không giống chúng ta, thế cho nên nếu ta biến Ngài giống như ta tức là ta đã biến một Giêsu lịch sử thành nhân vật do ta kiến tạo cho mình vì mục đích nào đó của mình, mà thôi.

Đức Giêsu cũng chẳng nhận ra được chính con người của Ngài trong các bài giảng của ta hôm nay. Ngài chẳng hiếu biết chút gì về thế giới ta đang sống. Ngài không theo tư-bản chủ nghĩa cũng chẳng hiểu thế nào là thứ doanh-thương tự mình làm chủ. Ngài chẳng bao giờ hỗ-trợ chủ trương làm giàu hoặc tạo mẫu mực chính đáng trong cuộc suốc. Ngài không tin tưởng hệ thống giáo dục tổn thể, lại chẳng bao giờ nghe hoặc để tâm đến cái gọi là nền dân-chủ. Ngài chẳng có gì bận tâm đến chuyện đi nhà thờ ngày Chủ nhật. Ngài không biết tí gì về an sinh xã-hội, tem phiếu, trợ cấp, các chủ-trương làm giàu nước Mỹ, hoặc số người thất nghiệp hoặc chính sách di dân nhập cảnh. Ngài cũng chẳng có quan-điểm gì về việc cải tổ thuế má, chăm sóc sức khỏe người dân (ngoại trừ việc chữa lành người phong cùi) và/hoặc chính sách an sinh xã-hội nào hết.                

(Bart D. Ehrman – sđd tr. 334-335)

Trong tâm tình xuất phát từ cuộc tản mạn trên, lại thấy có giòng chảy thơ/văn đầy “kỳ tích” những kể rằng:

“Trong thế chiến thứ hai, có một người đàn ông họ Wall tên là Martin. Martin Wall là một tù nhân chiến tranh, bị giam tại trại tù binh ở Siberia, từ đó anh phải rời xa quê hương Ukraina, bỏ lại người vợ Anna và cậu con trai Jacob của mình. Martin và gia đình mỗi người một phương, bặt vô âm tín, thậm chí sau khi anh bị bắt một thời gian, đến cả việc người vợ Anna sinh thêm một đứa con gái tên là Sonia mà anh cũng không hề hay biết.

Vài năm sau, Martin được trả tự do, lúc này anh kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần, nhìn vẻ bề ngoài của anh lúc bấy giờ như một ông già lọm khọm. Không những vậy, trên tay và chân của anh còn lưu lại nhiều vết sẹo, điều khiến anh đau lòng hơn nữa, là anh không còn khả năng sinh con.

Sau khi được ra tù, chuyện đầu tiên mà Martin làm là tìm kiếm vợ con mình. Cuối cùng, anh cũng nghe ngóng được tin tức của họ từ hội Chữ Thập Đỏ, người ta nói rằng vợ con anh đã chết trên đường đi tới Siberia. Martin đau khổ tột cùng và anh vẫn không hay hề biết rằng mình còn có một cô con gái trên thế gian này.

Thật ra, không lâu sau khi Martin bị bắt, Anna đã may mắn đưa được con trai Jacob chạy trốn đến nước Đức. Cô gặp được một đôi vợ chồng nông dân tốt bụng tại đó, đôi vợ chồng này đã cho mẹ con cô ở lại. Vì vậy, Anna sống yên ổn tại đó, đồng thời cô cũng giúp họ làm việc đồng áng và dọn dẹp nhà cửa. Cũng vào thời gian này, cô sinh đứa con gái Sonia. Anna tin rằng, chỉ cần Martin còn sống, họ nhất định sẽ trùng phùng, nhất định có thể tạo lập một cuộc sống mới. Nhưng, cuộc đời vốn không ai có thể biết trước. Vài năm sau đó, cuộc chiến tranh tàn khốc đã đưa nước Đức đến bờ vực của sự thất bại. Anna và con tin rằng sẽ có cơ hội để đoàn tụ với Martin.

Tuy nhiên, điều họ không ngờ là, Hồng quân Liên Xô đã tập trung những người dân di cư như họ lại, đưa họ lên một con tàu đông đúc như tàu chở súc vật, nói rằng sẽ đưa họ về nhà, nhưng thực chất là đưa họ đến trại tập trung đầy chết chóc ở Siberia.

Sau khi biết chuyện, hy vọng của Anna vụt tắt, cô cảm thấy tuyệt vọng, rồi sinh bệnh nặng. Cô biết mình không thể sống được bao lâu nữa, chỉ ngày qua ngày cầu nguyện: “Cầu xin ông trời, hãy phù hộ cho hai đứa trẻ bất hạnh của con!”. Một ngày nọ, Anna gọi Jacob đến bên cạnh và nói: “Con trai của mẹ, mẹ bệnh nặng lắm rồi, có lẽ không sống được bao lâu nữa. Mẹ sẽ ở trên trời phù hộ các con. Jacob, con phải hứa với mẹ, không bao giờ được bỏ rơi em gái Sonia”.

Sáng sớm hôm sau, Anna qua đời. Người ta đem thi thể của cô chất lên xe hàng và chở đến một khu nghĩa địa đầy rẫy những ngôi mộ vô danh. Còn hai đứa trẻ thì bị đem lên tàu hỏa, đưa đến một cô nhi viện gần đó.

Về phần Martin, người đang chìm đắm trong tuyệt vọng, lúc này đang làm việc như cỗ máy trong một nông trang. Một buổi sáng, Martin gặp Greta, một cô gái làm cùng nông trang với anh. Greta luôn mỉm cười để ý đến anh. Martin không ngờ rằng, cô gái luôn lạc quan yêu đời, thông minh lanh lợi này lại là bạn học ngày xưa của mình. Bôn ba nhiều nơi, trải qua bao biến cố thăng trầm, mà họ lại có thể gặp nhau ở đây, cả hai đều cảm thấy đúng là duyên phận.

Chẳng bao lâu sau, họ tổ chức hôn lễ. Martin cảm thấy cuộc sống của mình tìm lại được ánh mặt trời, cuộc sống lại trở nên có ý nghĩa. Greta cũng cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cô luôn mong mỏi có một đứa con để yêu thương, chăm sóc.

Đến một ngày, Greta nói với chồng:

-Martin, có nhiều đứa trẻ trong cô nhi viện, chúng ta hãy nhận một đứa về nuôi có được không? Martin phản bác:

-Greta, sao em lại có ý nghĩ như vậy, anh không thể chịu thêm bất cứ sự đả kích nào nữa, em có hiểu không? Greta vô cùng buồn bã.Nhưng cuối cùng mong muốn mãnh liệt được trở thành một người mẹ của cô đã thuyết phục được Martin. Vào một buổi sáng, Martin nói với Greta:

-Em hãy đến cô nhi viện nhận nuôi một đứa trẻ đi. Greta vui mừng khôn xiết, cô lập tức lên tàu đi đến cô nhi viện.

Greta bước trên hành lang tối tăm của cô nhi viện, nhìn về phía lũ trẻ đang xếp thành hàng, chăm chú quan sát, cân nhắc. Nhìn thấy những khuôn mặt trầm mặc, những ánh mắt cầu xin của lũ trẻ, Greta chỉ muốn mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả chúng vào lòng và đưa về nhà. Nhưng cô biết rằng, điều đó là không thể.

Đúng vào lúc này, có một đứa trẻ cười thẹn thùng bước về phía cô. Greta quỳ xuống, xoa đầu đứa trẻ:

-Cháu à, cháu có đồng ý đi theo cô không? Đến một nơi có cả cha lẫn mẹ?

-Đương nhiên cháu đồng ý, nhưng cô đợi chút, cháu đi gọi anh trai. Chúng cháu phải đi cùng nhau, cháu không thể bỏ lại anh trai mình được”.

Greta cảm thấy vô cùng băn khoăn, bất lực lắc đầu:

-Nhưng cháu à, cô chỉ có thể đưa một mình cháu đi thôi.

-Không, cháu muốn đi cùng anh trai mình. Trước đây chúng cháu cũng có mẹ, khi mẹ qua đời đã dặn anh trai không được bỏ rơi cháu.

Lúc này, Greta cảm thấy bản thân không muốn chọn bất kì đứa trẻ nào khác, bởi vì đứa trẻ trước mặt cô vô cùng đáng yêu, đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cô. Tuy nhiên, cô nghĩ rằng mình phải về thương lượng lại với Martin.

Về đến nhà, Greta lại khẩn cầu Martin:

-Martin, có một chuyện em muốn thương lượng với anh. Em phải nhận nuôi hai đứa trẻ, bởi vì đứa trẻ mà em chọn có một người anh trai, nó không thể rời bỏ anh trai của mình. Em mong anh đồng ý nhận nuôi đứa trẻ này được không?

-Greta, vậy sao em không chọn đứa trẻ khác, mà lại nhất quyết là bé gái này? Theo anh thấy thì tốt nhất đừng chọn đứa nào cả.

Lời nói của Martin khiến Greta vô cùng đau lòng, cô thậm chí còn không muốn đến cô nhi viện nữa. Nhìn thấy bộ dạng buồn bã của Greta, trong lòng anh chợt trào dâng niềm thương cảm. Tình yêu rốt cuộc lại giành chiến thắng.

Lần này, Martin và Greta cùng đi đến cô nhi viện, Martin cũng muốn gặp đứa bé gái đó. Đứa bé gái ra ngoài hành lang tiếp đón họ, lần này, cô bé nắm chặt tay cậu bé đi cùng. Đó là một cậu bé gầy gò, trông rất yếu ớt, nhưng đôi mắt của cậu bé lại ngập tràn sự dịu dàng và lương thiện. Lúc này, cô bé mở to đôi mắt sáng, nhẹ nhàng hỏi Greta:

-Cô đến đón chúng cháu phải không?

Greta chưa kịp trả lời, thì cậu bé đứng bên cạnh đã mở lời:

-Cháu đã đồng ý với mẹ là sẽ không bao giờ bỏ rơi em gái. Khi mẹ cháu mất, cháu đã hứa như vậy. Vậy nên, đáng tiếc là em gái cháu không thể đi cùng với hai người.

Martin âm thầm quan sát hai đứa trẻ vừa đáng yêu lại đáng thương này. Một lát sau, anh tuyên bố đầy quả quyết:

-Chúng tôi nhận cả hai đứa trẻ này. Martin đã bị cậu bé gầy gò ốm yếu trước mắt lay động bởi tình yêu thương của mình dành cho em gái.

Vậy là Greta đưa hai anh em đi thu dọn quần áo, Martin đến văn phòng làm thủ tục nhận nuôi. Sau khi Greta thu dọn đồ đạc, đưa hai đứa trẻ đến văn phòng, liền thấy Martin bần thần lúng túng đứng ở đó. Gương mặt trắng bệch, đôi tay run rẩy, dường như không dám kí vào thủ tục nhận nuôi.

Greta sợ hãi hỏi:

-Martin! Anh làm sao vậy? Martin?

-Greta, em nhìn những cái tên này xem! Greta nhận lấy tờ thủ tục nhận nuôi có ghi tên hai đứa trẻ:

-Jacob Wall; Sonia Wall, Mẹ: Anna (Bartel) Wall;

Cha:

-Martin Wall”.

-Em có biết không Greta, hai đứa trẻ này là con ruột của anh! Một là đứa con trai mà anh tưởng rằng đã chết từ lâu, một là đứa con gái mà anh chưa từng gặp mặt!

Martin xúc động đến nỗi nước mắt nhạt nhoà, anh vừa nói vừa quỳ xuống, ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng, anh xúc động thốt lên:

-Kỳ tích, thật là kỳ tích! Ôi! Cảm ơn trời đất đã phù hộ chúng con. Greta, nếu như không phải em đã thỉnh cầu anh nhận nuôi chúng, nếu như không có trái tim nhân ái của em, có lẽ anh đã không thể gặp được kỳ tích này rồi.

Sự thiện lương của Martin, lòng nhân ái của Greta và lời hứa đầy trách nhiệm của cậu bé Jacob, tất cả đã tạo nên một kỳ tích. Hạnh phúc thực sự luôn tồn tại, chỉ cần bạn biết tin tưởng và sống đúng với con người thật của chính mình, phép màu của số phận có thể sẽ đến với bạn trong tương lai. (ST sưu tầm)

Câu truyện sưu tầm ở trên lại dẫn người đọc nhớ về Lời Vàng khi xưa thánh hiền vẫn bảo:

“Về điều đó, họ kinh ngạc

vì thấy anh em không cùng chạy ùa theo cuộc sống truỵ lạc

ồ ạt như dòng thác lũ…”

(1Phêrô 4: 4)

Kinh ngạc hơn cả, là khi toàn thể thánh hội mình đã và đang trầm ngâm suy tư như sau:

“Trình thuật thánh Mátthêu ghi nhiều về niềm tin vào Tình Chúa, có thánh Phêrô dám bước khỏi thuyền mà đi bộ, trên sông nước. Nên chăng, gọi đó sự việc kỳ diệu, hay phép lạ? Gọi gì thì gọi, cũng nên nói rõ ở đây, về những khác biệt giữa sự việc diệu kỳ và phép lạ. Bởi diệu kỳ, là những gì ta không cắt nghĩa được, vào mọi lúc. Ta ở vào thế giới có quá nhiều điều kỳ diệu, nên chỉ cảm nghiệm chứ không giải thích được.

Nhà Đạo mình, gọi sự việc kỳ diệu Chúa làm là: “phép lạ”. Bởi, phép lạ cũng tạo hành xử tốt đẹp hơn chỉ cảm nhận những điều kỳ diệu ấy. Tốt đẹp, là nhờ niềm tin. Tin chắc, là Chúa hiện diện ở trong và ở trên mọi diệu kỳ. Và, ta quyết sống thực điều diệu kỳ bằng cung cách rất đặc biệt. Bởi, Chúa có làm điều huyền nhiệm diệu kỳ, cũng vì ta. Để, ta sống cảnh tình đặc biệt ấy, theo cung cách trực tiếp. Thế nên, phép lạ/kỳ diệu là sự việc mà dân con thành tín vẫn tin rằng: Chúa hoạt động vì ta, theo cung cách bất ngờ. Đặc biệt.

Phải chăng ta vẫn tin điều kỳ diệu, vào mọi lúc? Nhất định thế. Ta tin rằng, ai từng cảm nghiệm và tin Chúa vẫn đang làm điều diệu kỳ, đẹp như thế. Nhưng, vấn đề là hỏi rằng: Chúa có làm điều diệu kỳ như thế, thường xuyên chăng? Có thể là không, vì người người đều nghĩ Chúa chỉ thực hiện những điều hợp với thiên nhiên. Ngài để mọi sự trôi chảy, cách tự nhiên. Để con tim Ngài, đập theo nhịp đập của thiên nhiên trần thế, rất diệu kỳ. Và, phép lạ/kỳ diệu không là cung cách duy nhất giúp ta cảm nghiệm sống có Đức Chúa.

Trình thuật Tin Mừng hay kể về những diệu kỳ, rất tự nhiên mà đồ đệ Chúa đạt được là tin có Chúa hiện diện, bên mình. Truyện kể về việc đồ đệ làm theo Lời Chúa như diễn tả trong mọi trình thuật là: Chúa thực hiện diệu kỳ cho người ngoài cuộc.

Điều này, không có gì để ngờ vực, cả về tính lịch sử, cũng thế. Trình thuật, kể nhiều về Chúa làm thật lạ lùng, là cốt cho dân con/người trong cuộc, nhận thấy rõ. Ngõ hầu, đồ đệ thấy đó mà tin vào Ngài. Truyện kể rất hay. Rất giá trị. Và, ta sẽ hiểu trình thuật diệu kỳ như thế nào? Có coi đó như sự thật rất lạ về Chúa, không?

Và hơn nữa, ta có hiểu trình thuật diệu kỳ theo nghĩa đen không? Hoặc, chỉ như sự kiện cụ thể về Ngài. Hoặc, phải hiểu trình thuật như một biểu tượng. Rất giả tưởng? Phải chăng, việc Chúa làm nhiều điều lạ, là có thật? Hay, đó chỉ là cung cách đem đến cho ta một luận cứ, sứ điệp? Hoặc, cả hai?

Nên, đó cũng là lúc các thánh lãnh nhận sứ điệp: “Anh em đừng sợ! Hãy can đảm mạnh dạn lên! Thầy đây vẫn phải giáp mặt với sự chết. Nhưng, Thầy sẽ sống. Bởi sau cái chết, vẫn còn đó cuộc sống miên trường. Này đây, Thầy đã có mặt. Anh em cứ an tâm”. Và, các thánh rất an tâm lúc nào cũng có Thầy, ở cạnh bên.

Thật ra, trình thuật nào cũng nói lên thông điệp quan trọng, là: Chúa vẫn phải giáp mặt với sự chết. Nhưng, Ngài lớn lao hơn cả cái chết. Kịp đến khi các thánh nhận ra là Thầy đang ở cạnh bên, nơi mạn thuyền, thì rõ ràng, là: Thầy còn cao cả hơn cả lớp sóng vỗ, rất dữ dằn.

Thông điệp, là thông tri để người người biết rằng: quyền uy cao cả của Đức Chúa luôn lớn hơn sự chết. Và, những gì liên quan đến uy quyền của Ngài vẫn uy nghi, cao cả hơn cả thiên nhiên, vạn vật. Hơn sự chết. Ai tin Ngài, bằng niềm tin đích thực, thì chính Ngài là sự diệu kỳ  ta ắt thấy.

Trình thuật Chúa làm ở nhiều nơi, nhìn theo nhãn quan này, sẽ ăn khớp với tình huống xảy đến sau ngày Chúa sống lại, cũng rất thật.

Có thể, tác giả xưa từng sử dụng nhiều chi tiết là để nói lên sự thể bảo rằng: Đức Chúa lớn lao hơn mọi anh hùng hảo hán, rất Hy Lạp. Hơn hẳn tổ phụ Môsê và ngang bằng với Giavê Thiên Chúa. Tác giả Tin Mừng viết truyện kể lạ lùng, là để nói lên điều kỳ diệu Chúa vẫn làm. Phải chăng các tác giả Tin Mừng đều muốn nói: truyện kể về sự diệu kỳ Chúa làm, thật sự xảy ra. Phải chăng, chính thánh sử Tin Mừng muốn minh chứng việc Chúa làm chuyện diệu kỳ, là có thật?

Thật ra, khi ghi lại trình thuật, các tác giả Tin Mừng đều muốn đưa ra một biểu tượng để mọi người thấy là: con thuyền Hội thánh đóng vai trò Thủ Lãnh, rất hệ trọng. Chỉ các ngài, mới có trọng trách hướng dẫn mọi người. Đồ đệ thân thương của Chúa có thể giữ vai trò lãnh đạo, nhưng không thể cáng đáng con thuyền Hội thánh và cũng chẳng kham nổi mọi trọng trách nếu không có Chúa đỡ đần, chở che.

Vấn đề là: ai làm được việc quản cai Hội thánh, nếu Chúa không đỡ đần. Cả đến tông đồ cùng dân con đồ đệ lẫn đấng bậc đầy tớ Chúa ở trên cao, cũng chẳng thể tạo cho mình quyền uy cao cả, nếu không có Chúa phụ đỡ. Như thánh Mátthêu ghi rõ ở nhiều trình thuật.

Minh định rõ nhất mà trình thuật Tin Mừng đưa ra, là: sự diệu kỳ thể hiện nơi đặc trưng của Chúa, để mọi người tin Ngài. Tất cả, đều tin vào sự diệu kỳ nơi bản thân Chúa trên cả sự sống lẫn cái chết. Và hệ quả, là: mọi hãi sợ nơi ta đã giảm bớt. Tác giả Tin Mừng, như thánh Mác-cô và Mát-thêu, cũng quan niệm như thế hết.

Tuy nhiên, đến nay, Hội thánh vẫn chưa  có phán quyết rõ rệt về vấn đề này. Thêm vào đó, thánh sử ghi lại trình thuật là: rút tỉa truyện kể do thánh Máccô sáng chế; và thánh Mátthêu còn thêm vào đó đôi điều, cho hợp nghĩa. Lại nữa, ở mọi trình thuật, ta đều thấy các thánh bao giờ cũng là người có tính hồn nhiên, bộc trực mà đến với Thầy, nhờ Thầy nâng đỡ, mới xong.

Thêm nữa, sự diệu kỳ ở các trình thuật Tin Mừng còn cho thấy: các thánh nhận ra sự thật là: Thầy luôn ở cạnh, để cứu độ. Thánh sử Mátthêu ghi trình thuật để nói lên luận-cứ về quyền của Hội thánh. Các thánh không thể giải quyết mọi cơn phong ba bão tố của Hội thánh, mà không có sự phụ giúp của Đức Chúa.

Thành thử, ta có nghe và đọc các trình thuật theo chiều hướng nào đi nữa, cũng chớ nên biện luận, tranh cãi hoặc chia rẽ, nhưng hãy mạnh dạn đương đầu mọi trở ngại trong/ngoài Thánh Hội. Hãy vượt lên tất cả, mà cùng với Chúa, vì Chúa, như Chúa đã và đang làm. Và rồi, khuyên nhủ bạn bè người thân: “Chớ hãi sợ! Mọi sự đã có Chúa  đỡ đần.” (Suy tư Tin Mừng rút từ mạng)

Quyết thế rồi, nay ta hãy hiên ngang đầu cao mắt sáng cất lên lời ca ở trên, rằng:

“Em hỡi sương rơi,

ngoài song đêm hạ, ôi buồn phố xá
Hoang liêu về chết tha ma,

tiếng chân gõ guốc xa xa
Người xa vắng người, người xa vắng người...”  

(Thơ: Cung Trầm Tưởng - Nhạc: Phạm Duy)

“Người xa vắng người”, ở đây bây giờ, vẫn còn là sự lạ trên đời, của nhiều người.

Trần Ngọc Mười Hai

và các ghi nhận

vẫn còn đó,

nỗi buồn.