• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Em gái vườn quê

Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.

(Hoàng Thi Thơ – Duyên Quê)

(Rm 9: 15-17)

Đã là “Duyên Quê”, thì không chỉ có em mà cả anh nữa. Hết mọi người. Ở thời này. “Duyên Quê” hôm nay, còn là cái duyên của người còn ở quê nhà hay đã xa quê từ lâu lắm, rất nhớ nhung.

Duyên Quê hôm nay, nhiều nhung nhớ rất quê mình, và quê người, cùng một lối. Rất tương lai, mai ngày và mãi mãi cứ là duyên và quê nhà thương yêu, diễm kiều, đầy chất thơ. Và, chất nhạc nhiều thơ, không ơ hờ và cũng chẳng thẫn thờ, một chiều mơ. Rất tuyệt diệu.

Duyên Quê hôm nay, còn là tính-chất rất có duyên của những người không còn quê mùa, nhưng vẫn vương vấn tính-chất rất “quê vườn” của mình và của người, khá tuyệt vời. Tuyệt vời với tuyệt chiêu hay tuyệt cú mèo hay tuyệt gì đi nữa, nay mời bạn và mời tôi, ta rong rả thả hồn đi rong vào lòng người để thưởng thức một ý nguyện nào đó trong đời, như ý của vị trưởng thượng, qua câu hỏi/đáp rất như sau:

“Hỏi, là hỏi những câu được bạn đọc nọ từng hỏi như sau:

“Thưa Cha,

“Con có người Chú từng là huấn-luyện-viên môn Yoga và ông là người Công Giáo sùng đạo, không bỏ lễ ngày nào. Theo con, theo cách nào đó: môn Yoga không thích-đáng với niềm tin đi Đạo của ta. Vậy, xin cho con chút ánh sáng soi tỏ vấn-đề này, để bà con đi Đạo có đường mà tin cho đúng cách. Được vậy, con cảm ơn Cha rất nhiều.” (Câu hỏi từ một người mộ đạo nhưng không ghi quí danh)

Và câu trả lời của đấng bậc vị vọng ở Sydney vẫn được coi là chính qui/chính mạch như sau:

“Để đáp trả câu hỏi của anh/chị, tôi xin mượn lời Thày Giảng Max Sculley DLS từng viết cuốn “Yoga, Tai Chi, Reiki: hướng-dẫn người theo chân Chúa giữ Đạo” do nhà xuất bản Modotti Press ở Ý đưa ra. Tác-giả nói rõ ý-tưởng bảo rằng: dù nhiều nhóm hội/đoàn thể Công-giáo lâu nay vẫn giới-thiệu và giải thích nhiều về “Yoga”, nhưng việc thực-thi các lời khuyên bảo ấy đã và đang đem đến mối hiểm-nguy không nhỏ cho niềm tin đi Đạo của chúng ta. Tôi xin tóm kết những điều ngài nói để anh/chị và mọi người hiểu là tôi đề-nghị nên cuốn sách. Tóm gọn như thế này:

“Yoga không chỉ là một loạt động-tác luyện tập để gỡ bỏ mọi căng thẳng và đề xuất lối sống làng mạnh cả về thân xác cũng như tinh thần. Dù lâu nay ta có nhiều hình thức luyện tập yoga rất khác biệt, nhưng phần lớn đều gồm tóm một số thế đứng, động-tác làm chậm hơi thở của người thực-thi động tác  trong lúc tập trung cả vào não bộ thần-kinh lẫn xác thể và cứ thế lặp đi lặp lại tư-tưởng hoặc câu nói nào đó. Tất cả chỉ để hấp-thụ hơi thở hoặc năng-lượng thần thiêng, từ không trung và chuyển tải vào cơ thể như thể đi vào trạng-thái ý-thức.

Người thực-hiện các động-tác như thế vốn học cách cảm-nhận hơi thở và đưa nó đi thẳng vào bẩy trung-khu tập-trung năng lượng khác nhau hoặc các trung-tâm chứ năng lượng bắt đầu đi sâu vào vòm nhọn và đỉnh đầu.

Đỉnh cao đạt được khi đầu não trở nên trống rỗng kéo dài thời-gian và người thực-hiện đi vào trạng-huống tự nhận thức chính mình và soi sáng con người mình, biết rõ rằng mình hiện đang thăng-hóa và nhập-cuộc với vũ trụ.

 Muốn nên một với cõi trời thăng-hóa, đối với người Ấn-giáo, là trở nên một với Brahma, tức ngã vô cả, tức năng-lương vô-biên vốn là tạo-hóa dựng nên tất cả mọi sự trong vũ trụ. Vũ-trụ đây, đến lượt mình, lại cũng kéo dài cái ngã của Brahma, đó là theo niềm tin thần thánh của người Ấn-giáo vẫn cho rằng mọi sự trong thiên-nhiên đều là thần thiêng thánh hóa cách nào đó, thôi. Cũng là chuyện dễ hiểu khi bảo rằng Yoga trở-thành phổ-cập với những người sủng ái ở Thời Đại Mới.

Theo lý-thuyết của Yoga, thì khi năng-lượng thần thiêng bốc lên ngang qua mọi giai-tầng của “chakra” tức trung-khu năng-lượng mà con người nhận được quyền-uy tâm-linh thích-ứng với từng cấp-độ. Việc này bao gồm cả khả-năng đọc được ý-nghĩ của người khác, biết được cuộc sống trong quá-khứ hầu giao-tiếp với thế-giới tinh-thần, gồm cả các hồn thiêng của người đã chết, có mãnh-lực thấu suốt, tự nâng bổng chính mình và có nặng-lực chữa lành mọi sự.

Việc nâng bổng hơi thở ngang qua thể xác được nữ thần Ấn-giáo là Kundalini tượng-trưng-hóa thành con rắn cuộc cong nằm ngủ dưới bệ cột sống đã trỗi dậy và cuối cùng lợp-lực vào với trung-khu năng-lượng thần thiêng cùng với thần Shiava của tín-đồ Ấn-giáo.

Thành thử, hỏi rằng tại sao Yoga là nguy-hiểm đối với niềm tin của người đi Đạo Chúa, thì cũng rõ như ta từng thấy nãy giờ, toàn-bộ niềm tin vào “năng-lượng thánh thiêng” trong vũ trụ mà con người có được con đường dẫn vào cơ thể khiến mình có khả năng biến con người mình trở thành thần thiêng theo cách nào đó. Và trở nên Một với Chúa , tức: đi ngược lại niềm tin của người Đạo Chúa. Đó chính là sự tin tưởng theo phái phiếm thần vẫn cho rằng Thiên Chúa đồng-hóa với thiên-nhiên.

Cả vào khi con người hình-dung “năng-lượng” này như ân-huệ của Thiên Chúa hoặc của Chúa Thánh Thần đi nữa, và Ngài đã làm thế trong thời kỳ nào đó hoặc theo cách nào đó đi nữa. Ta cũng không thể tạo đường luồng nối kết với ân-huệ hoặc với Thần Linh Thánh Ái vào chính con người mình duy nhất chỉ bằng cách có được lòng muốn như thế.

Thêm điều nữa, là: tình-trạng ý-thức được thay thế vốn dĩ là mục-tiêu của phái Yoga trong đó trí-tuệ vẫn còn đó và coi như trở nên một với vũ-trụ lại có thể khiến con người cởi mở chính mình ra với loài ma mãnh. Quả thật rất nhiều trường-hợp con người đã vô tình theo học các môn-phái của Yoga để rồi cuối cùng cũng bị đám ma mãnh tạo ảnh-hưởng lên người mình. Và, nhiều người cuối cùng lại cũng bị thứ bệnh tâm-thần nào đó vật ngã. …

Nói cho cùng, thì khi thần-linh của Yoga là năng-lượng vô-hồn, thì Thiên-Chúa của tín-hữu đi Đạo Chúa lại là Đức Giêsu nhập-thể làm người phàm đã thương yêu ta quá độ đến nỗi Ngài chấp-nhận chết trên thập-giá cho ta và ở lại với ta mọi người trong Mầu-nhiệm Thánh Thể.

Tắt một lời, giả như con người muốn có được sự bình yên trong tâm não, tốt hơn cả hãy bước chân vào nguyện đường, ở lại nơi đó một thơi gian mà nghiền ngẫm về tình thương yêu của Chúa đang hiện-diện trong Nhà Tạm, thì ta chẳng còn cần gì đến Yoga, hết.” (X. Lm John Flader “Yoga is out for Christians, The Catholic Weekly 03/3/2019 tr. 21)

Với bần đạo bầy tôi đây, ngẫm nghĩ và ngẫm thầm những điều như thế, khác nào người nghệ sĩ ngoài đời cứ là hát lên những lời đầy ý-nghĩa như sau:

“Em biết mặt anh
Một chiều bên thềm
Giọng hò êm đềm
Và đôi mắt em long lanh sau rèm.

Ai hát ngoài ao
Chừng ngồi giặt áo
Giọng hò êm quá
Mà em ngỡ ai rót mật vào lòng.

Anh cuốc vườn sau
Mặt trời trên đầu
Ruộng vườn lên màu
Vì em ước mong đây đó chung lòng.
Gió xao ao bèo
Em thương anh không kể là giàu nghèo
Miễn rằng tình đặng sơn keo
Núi cao em cũng trèo
Sông sâu em cũng lội
Vạn đèo em cũng qua.

Gió lay cành đa
Anh thương Anh thương em thật thà
Mưa lay hoa cà Da em quá mặn mà
Và thương bao giọt mồ hôi
Đẹp má mặn môi.
Đây miếng trầu cay
Một buồng cau trắng
Một buồng cau trắng
Mà duyên đôi ta nên
Vợ thành chồng.
Một túp lều tranh
Một vầng trăng tròn
Một vầng trăng tròn
Mà tha thiết yêu cho hết tơ lòng.

Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Là nghệ sĩ với những vần thơ đơn giản của thi ca/âm nhạc nổi lên nói thay cho mình, thì thiết tưởng tâm tình của người nghệ-sĩ nói đây, cũng đã và đang đề-nghị ta và người hãy hiên-ngang mà ca hát những lời “còn đó nỗi buồn”, qua bài “Duyên Quê” hoặc Duyên (tỉnh thành) có những ý-từ như sau:

“Em gái vườn quê”

Cuộc đời trong trắng”
Dầm mưa dãi nắng
Mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

 Duyên quê hay duyên gì đi nữa, vẫn là cơ duyên của người ở quê miền nhà mình rất dễ yêu và dễ mến, rất nhiều thời, mà thôi. Nghĩ thế rồi, nay mời bạn và mời ta, ta cứ thế hiên ngang hát lời lời ca, cùng ý-tứ vẫn tuân trào mà rằng:

“Cho đến ngày mai
Dù mưa hay nắng
Lòng ta vẫn thắng
Mà đôi chúng ta xây dựng
Đời này ta có bàn tay
Một tình yêu này
Một đời sum vầy
Thì đâu khó chi lấp biển vá trời...”

(Hoàng Thi Thơ – bđd)

Duyên gì thì duyên, cũng không bằng “duyên tình” mà Đấng Ở Trên vẫn hằng ban cho ta, và cho người như đấng thánh hiền nhà Đạo từng minh định, như sau:

“Thiên Chúa đã phán với ông Môsê:

Ta muốn thương xót ai thì thương xót,

muốn cảm thương ai thì cảm thương.

Vậy người ta được chọn không phải vì muốn hay chạy vạy,

nhưng vì được Thiên Chúa thương xót.

Quả thế, trong Kinh Thánh,

Thiên Chúa cũng nói với Pharaô:

Ta đã cất nhắc ngươi lên,

chính là để dùng ngươi làm cớ cho mọi người thấy sức mạnh của Ta,

và để cho danh Ta lẫy lừng trên khắp hoàn cầu.

Vậy Thiên Chúa thương xót ai là tuỳ ý Ngài,

và làm cho ai ra cứng cổ cũng tuỳ ý Ngài.”

(Thư Rôma 9: 15-17)

Để minh-họa những điều nêu trên, tưởng cũng nên đề nghị bạn/đề nghị tôi, ta đi vào vùng trời truyện kể có những tình-tiết khiến ta nhớ hoài nhớ mãi một tình-tự làm đoạn kết cho bài phiếm lai rai nhưng không dài, của ngày mai như sau:

“Tại bệnh viện tâm thần nọ, để kiểm tra lần cuối cùng trước khi cho bệnh nhân xuất viện các bác sĩ bèn bàn nhau cho vẽ một cái cửa giả lên tường rồi bảo:

-Các anh hãy mở cánh cửa đó ra là có thể về nhà được rồi!

Các bệnh nhân vui vẻ xông vào cánh cửa vừa mới vẽ để đi ra, duy có một người đứng từ xa không làm gì chỉ cười ngặt nghẽo. Thấy vậy, các bác sĩ vui mừng vì nghĩ anh này đã hết bệnh liền đến gần rồi hỏi:

-Tại sao anh cười?

Bệnh nhân kia bèn đáp:

-Tại vì tôi thấy bọn họ ngu quá.

Các bác sĩ mừng thầm, nhưng để chắc ăn hơn, bèn hỏi tiếp:

-Thế tại sao anh lại bảo bọn họ ngu?

Anh này giơ cái xẻng đang cầm trong tay bèn trả lời:

-Tại vì tui đang giữ chìa khóa cửa ấy đây thì lại sao bọn chúng có thể mớ cái cửa đó ra được!” (Truyện cười đọc trên báo)  

Truyện đọc rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ thế hiên ngang mà tiến bước về phía trước mang theo niềm tin tưởng mình đã tạo cho chính mình và mọi người. Ở đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những tình-tự còn đó

Vẫn không buồn thuở nào đây.

Trần Ngọc Mười Hai