• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Sống trên đời này

người giàu sang cũng như người nghèo khó.”

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – Trở Về Cát Bụi)

(Lc 2: 41)

“Trở Về Cát Bụi”, lại có nghĩa “đi vào lòng đất”, lòng người và lòng đời, rất khơi khơi. “Trở về cát bụi” còn là và sẽ là trở về với nhà Đạo nhiều tầng lớp. Có lớp tầng đầy vàng son. Có tầng lớp lợi danh với chức quyền, như nhạc bản còn lên tiếng, như sau:

“Này nhà lớn lầu vàng son

Này lợi danh, chức quyền cao sang

Có nghĩa gì đâu… sao chắc bền lâu

Như nước trôi qua cầu

Này lời hứa…

Này thủy chung…

Này tình yêu… Chót lưỡi đầu môi cũng thế mà thôi

Sẽ mất ngày mai như áng mây cuối trời

Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi mất.

Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen

Nào người sang giàu đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em

Người ơi xin nhớ cát bụi là ta… mai này chóng phai

Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi

Xin người nhớ cho.”

(Lê Dinh – bđd)

“Người nhớ cho”, xin nhớ đủ mọi thứ chuyện. Cả đến truyện kể không nặng nề, nghe cũng thấy mê, đọc được ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Một người đàn ông chết rồi, mới ý thức được rằng cuộc đời mình thật ngắn ngủi. Lúc đó, anh ta nhìn thấy Phật tổ tay xách một cái hòm, tiến lại phía mình. Phật tổ nói:

-Con trai, chúng ta đi thôi.

Người đàn ông đáp:

-Sao nhanh quá vậy, con còn rất nhiều việc vẫn chưa hoàn thành.”

Phật tổ nói:

-Ta rất xin lỗi, nhưng thời gian của con hết mất rồi!

Người đàn ông lại hỏi:

-Vậy thưa Phật tổ, trong chiếc hòm của ngài có chứa thứ gì vậy?

-Đó là di vật của con, Phật tổ trả lời.

Người đàn ông tỏ ra nghi ngờ, hỏi tiếp:

-Là di vật của con sao? Ý của người: đó là thứ thuộc về con, có phải là quần áo và tiền không ạ?”

Phật tổ đáp:

-Những thứ đó trước giờ chưa bao giờ thuộc về con, chúng thuộc về địa cầu.

-Vậy có phải trong đó là ký ức của con không?

Người đàn ông ngẫm nghĩ một lát rồi phỏng đoán..

-Không phải, ký ức thuộc về thời gian.

Người đàn ông lại đoán:

-Có phải là tài năng thiên phú của con?

-Không, chúng thuộc về cảnh ngộ.

Người đàn ông băn khoăn:

-Lẽ nào trong đó là bạn bè và người nhà con?

-Con trai ạ, không phải vậy đâu. Họ thuộc về hành trình mà con đã đi qua.

-Vậy có phải là vợ và các con của con trong đó không thưa Phật tổ? người đàn ông hỏi tiếp.

-Không, họ thuộc về trái tim con..

Người đàn ông lại phỏng đoán:

-Vậy nhất định đó là thân xác của con rồi.

-Không, thân xác của con thuộc về cát bụi.

Cuối cùng, người đàn ông khẳng định chắc chắn:

-Vậy đó nhất định là linh hồn của con!

Lúc này, Phật tổ mỉm cười, đáp:

-Con trai, con hoàn toàn sai. Linh hồn của con thuộc về ta.

Mắt ngấn nước, người đàn ông nhận chiếc hòm từ tay Phật tổ bên trong chiếm hòm trống rỗng. Nước mắt chảy dài trên má, trái tim vỡ vụn, người đàn ông hỏi Phật tổ:

-Lẽ nào từ trước tới nay con chẳng sở hữu bất cứ thứ gì sao?

Phật tổ đáp:

-Đúng thế con ạ. Trên thế giới này bây giờ chẳng có bất cứ thứ gì thực sự thuộc về con.

-Vậy thì cái gì mới là của con?

-Mỗi tích tắc khi con đang còn sống, chúng thuộc về con, còn bây giờ, con chẳng còn gì cả.

Đến lúc này, người đàn ông mới như được thông suốt. Thì ra, sinh mệnh, đời người chỉ là những cái tích tắc ngắn ngủi và điều chúng ta nên làm nhất, là tận dụng nó sao cho thật hiệu quả, thật tốt, yêu quý nó, hưởng thụ nó. Còn được sống, đó đã là một sự chiến thắng vẻ vang. Việc kiếm tiền chỉ là một trò chơi không hơn không kém. Khỏe mạnh mới là mục đích và vui vẻ, hoan lạc mới là chân đế!

Vậy nhưng trong cuộc sống này, thử hỏi có bao nhiêu người đang ra bị cuốn vào vòng quay tiền tài, danh vọng? Có bao nhiêu người vì chút lợi ích của bản thân mà làm tổn hại người khác và làm tổn thương chính mình mà không nhận ra? Có bao nhiêu người sẵn sàng bán sức, đánh đổi sức khỏe để lấy những vật ngoài thân…?

Các bạn biết không, đó là sai lầm lớn nhất cuộc đời, bởi đến lúc chết, chẳng có bất cứ thứ gì trên thế giới này còn thuộc về chúng ta. Vậy thì tại sao không tận hưởng một cách triệt để nhất mỗi tích tắc được sống trên đời? Tại sao không làm cho quãng thời gian ngắn ngủi ấy trở nên ý nghĩa, trọn vẹn nhất?

Từ lúc này, mỗi chúng ta hãy chọn cho mình một cách tận hưởng thời gian hiệu quả nhất, đơn giản thôi, đừng quá nặng nề với những yêu cầu xa vời, chúng chỉ khiến cuộc sống của chúng ta thêm mỏi mệt. Và cũng bởi cuộc đời rất ngắn, nên hãy dành cho những người xung quanh ta sự trân trọng, yêu quý hết sức có thể, đừng tranh chấp, cũng đừng giận dữ, hãy lựa lời, cùng thấu hiểu và thông cảm cho nhau.

Thời gian của mỗi người trên đời càng đi càng ngắn lại, dù là thân thiết gắn bó đến đâu, cuối cùng cũng vẫn phải chia ly”. (Theo báo Trí Thức Trẻ)

Thời gian dài ngắn, đến trước đến sau, đều có những sự kiện để đời. Hệt như Đạo Chúa cũng có những sự-kiện để đời khiến con người không thể chối bỏ, tránh né hoặc bỏ bê không tham-dự. Chính đó, là lễ hội ở nhà Đạo được ghi nhận như sau:

“Mọi người chúng ta nên biết đôi điều về các ngày lễ được nêu tên trong Tân Ước diễn tả cuộc sống rất đặc trưng của Đức Chúa. Tôi sẽ kể ra đây một vài lễ hội quan trọng của Do-thái-giáo. Trước tiên, ngày trọng đại nhất là Lễ Vượt Qua. Đây là lễ hội chính trong năm kỷ niệm cuộc giải thoát dân Israel sau 400 năm sống đời cơ-cực ở Ai Cập.

   

Hẳn mọi người còn nhớ Joseph, con trai của Giacóp bị các người anh của mình bán làm nô lệ cho Ai Cập, nhưng anh đã trỗi-dậy trở thành người quản-gia phục-vụ trong triều Pharaô. Suốt nhiều năm tháng kể từ ngày Israel phải chịu cơn đói kém trải dài, mấy người anh của Joseph đã thân chinh lên đường đi Ai Cập để kiếm cách độ nhật. Và theo lệnh Joseph, toàn-thể gia đình những người thân đã qua đó làm nô-lệ phục-vụ vua quan ở đó suốt 400 năm, khiến gia-tăng dân số lên gấp bội.

Kế đó, tổ-phụ Môsê cũng đưa họ ra khỏi Ai Cập mãi đến lúc tử-thần chợt đến vào ban đêm giết sạch các con trai đầu lòng và cả thú vật của họ; riêng dân Do-thái được lệnh bôi máu chiên lên thành cửa thoát nạn, tình-hình khi ấy trở nên thập phần bi-đát khiến vua Pharaô biết chuyện đành phải thả họ về nước. (X. Sách Xuất hành đoạn 12 câu 1 đến câu 32)

Sau đó không lâu, người Do-thái-giáo đã cử-hành mừng lễ hội này vào mỗi tháng, tức: đúng buổi chiều ngày thứ 14 tháng Nisan, tức ngày tròn trăng của mùa Xuân. Và khi ấy, đã có lệnh lan truyền rằng: mỗi gia đình đều phải ăn một con trừu được hiến tế vào sáng sớm trong ngày cùng với bánh không men và rau đắng; đồng thời, mọi người được bảo phải uống thật nhiều rượu và đọc lời cầu sau nghi thức được chỉ định.

Mọi nam-nhân khi ấy đều phải chuẩn bị đi Giêrusalem dự lễ hội và Đức Maria cùng thánh Giuse cũng đều tới đó mỗi năm (Lc 2: 41; Xh 23: 14-17). Lễ hội Vượt Qua kéo dài một tuần lễ, trong những ngày này mọi người chỉ được phép ăn bánh không men thôi.

Tin Mừng thánh Mátthêu, Máccô và Luca, rõ ràng có chép: Đức Giêsu cũng cử-hành tiệc Tạ-từ qua nghi-thức mừng Lễ Vượt Qua như mọi người (Mc 26: 17). Làm thế, Ngài đã biến Lễ hội Vượt Qua thành Tiệc Thánh Thể mừng kính sự-kiện Thiên Chúa giải-thoát dân con loài người khỏi tình-trạng nô-lệ tội lỗi, nỗi chết và ác thần sự dữ bằng cái chết của Con Chiên Thiên Chúa trên thập-tự.

Lại có lễ-hội khác, qua đó người Do-thái-giáo nối-kết với Lễ hội Vượt qua, là Lễ Bánh không men, bên tiếng Hy Lạp gọi là Azymes, tức: lễ hội ngày mùa qua đó nhà nông cùng nhau tụ-tập tiến dâng hoa quả đầu mùa lên Thiên Chúa  (x. Sách Lêvi 23: 15; sách Đệ Nhị Luật 16: 9)             

Do bởi người Do-thái không có khả năng trồng trọt và canh-tác mãi đến lúc họ trở về vùng đất hứa 40 năm sau  khi rời bỏ đất Ai Cập, rõ ràng là lễ hội này được định-vị từ ngày ấy mà thôi. Như thế còn có nghĩa, đã từ lâu lễ này được cử hàng cùng với lễ Vượt Qua bởi lẽ cả hai lễ hội đều chú trọng đến bánh không men và cả hai đều được mừng kính cùng một thời-điểm trong năm.

Nghi-lễ này chính-thức được định-vị trong những năm tháng ngày dài sau đó, cả hai lễ hội này đều được mừng kính tại Giêrusalem. Nghi-thức được cử-hành bằng thức ăn của lễ Vượt Qua vào đêm tối trước ngày 14 tháng Nisan. Lễ hội này kéo dài suốt tuần lễ và suốt thời gian này dân con mọi người bị cấm chỉ không được ăn bánh có lên men hoặc men bột được cất giữ ở trong nhà. Và, các ngày lễ trọng thể nhất là ngày đầu và ngày cuối của lễ hội ấy cùng với ngày sabát rơi vào những ngày từ 14 đến 21 của tháng Nisan.

Ngoài ra, còn một lễ hội khác cũng quan trọng không kém đối với người theo Do-thái-giáo, đó là: Lễ Ngũ Tuần hoặc còn gọi là Lễ Hiện Xuống. Lễ này được thiết-lập để dân con trong Đạo cảm-tạ Thiên Chúa đã phú ban cho họ hoa quả, đậu hạt, lúa miến, lúa mạch cùng nhiều lúa khác có màu đen. Dân con trong Đạo cử hành mừng lễ thất tuần hoặc 50 ngày sau lễ hội Bánh KHông Men , bên tiếng Hy Lạp gọi là Lễ Ngũ Tuần (Hiện Xuống).

Đương nhiên, lễ hội này được nối kết chặt chẽ với lễ Bánh Không Men được cử hành xen kẽ vào ngày đầu và cuối vụ gặt. Với Lễ Vượt Qua, tất cả nam-nhân Do-thái phải có mặt ở đền thờ ở Giêrusalem để mừng lễ Hiện Xuống.

Điều này cũng giải thích lý do tại sao tất cả mọi người Do-thái-giáo ở khắp mọi nơi trên thế-giới đều về Giêrusalem mừng lễ kỷ niệm ngày Thánh Thần Chúa hiện xuống với các thánh tông-đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần (x. sách Công vụ đoạn 2 câu 5-11). Bầu khí tưng bừng vây quanh lễ hội này, là niềm vui cao cả, trong đó có yến-tiệc linh-đình hội-tụ tất cả mọi thành viên trong gia đình, từ người giúp việc cho đến khách quí được mời như người cùng nhà.” (X. Lm John Flader, Jewish feasts the roots of today’s Christian faith, The Catholic Weekly 14/8/2018 tr. 29)     

Trong những ngày vui đình đám như thế, giả như ai đó trong nhóm dân con đi Đạo lại cứ rủ nhau quay quần mà vui chơi, ăn uống luôn tiện mừng kính mọi ý-nghĩa này khác của đời người, hẳn mọi người sẽ không còn bận tâm gì đến lời lẽ của nhạc phẩm được trích dẫn ở trên với những ca-từ từa tựa như:

Sống trên đời này

người giàu sang cũng như người nghèo khó.

Trời đã ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau

Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau

Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao.”

(Lê Dinh – bđd)

Để minh-họa tình-tiết của lễ-hội vui, buồn đình đám nói ở trên, thiết tưởng cũng nên đi vào vùng trời truyện kể, để kiếm tìm một câu truyện làm nền, hầu ghi nhớ. Truyện, là những câu chuyện được gửi gắm cho nhau, đến với nhau, những niềm vui như sau:

“Tôi không phiền lòng chuyện bạn tù của tôi là một “vợ”. Hắn rộng rãi chia với tôi những thỏi chocolate và thuốc lá mà bọn “chồng” mua cho hắn. Tôi cũng không khó chịu việc hắn là trí thức. Tôi cũng trí thức. Trong chốn này, chỉ cần kể được tên thủ phủ hai tiểu bang và đọc bảng chữ cái không vấp, người ta được coi là trí thức. Nhưng chúng tôi trí thức thứ thiệt. Chúng tôi biết cách lý lẽ. Khác nhau duy nhất giữa tôi và hắn: tôi trí thức hữu cơ, hắn trí thức vô cơ.

Tôi nói vô cơ theo nghĩa, logic của hắn không được logic lắm. Hắn cho biết cả đời bị ám ảnh vì hình dạng những lưỡi kéo: “Tao khoái một số lưỡi kéo đầu tà, một số đầu nhọn. Chúng có thể đâm, cắt, mở toang hoác như miệng.” Hắn đưa hai ngón tay ngang mũi làm động tác cắt, cười tinh quái. Hắn nói cảm thấy ngây ngất được ở chốn này: “Suốt đời tao mong vào đây, dù không biết nó thế nào. Không phải sai lầm đâu, chỉ là một chọn lựa. Người ta chọn số phận mình.”

Vớ vẩn. Tôi đâu chọn vào đây. Không ai chọn vào đây. Lý do đẩy tôi vào tù là một cơn bệnh ngoài tầm kiểm soát. Không ai có thể nói tôi thích tù hơn cuộc sống bên ngoài. Vì kiểu lý lẽ đó, hắn là một trí thức vô cơ. Hắn suy diễn những quy luật phổ quát dựa trên nhầm lẫn cá nhân. Hắn nói thêm: “Biết chấp nhận số phận, thậm chí một số phận quái đản, đầy đau đớn khổ sở của chính mình và kẻ khác, sau cùng ta trở nên thanh thản, thăng hoa!”

Ý tưởng này đến từ tên tù chung thân không có khả năng được ân xá! Chuyện hắn đã làm chắc chắn là tội ác, nhưng không ghê tởm hơn tôi, hay hầu hết những kẻ trong này. Tôi không lên án hắn. Cũng không mong hắn ăn năn. Ðiều tôi phản đối là cách hắn nhìn tội ác như một phương tiện khám phá bản thể. “Ðể hoàn thiện một người,” hắn triết lý, “nhiều kẻ khác phải bị hủy hoại. Ðiều này cũng đúng với những quốc gia.”

Nếu điều này là sự thật, tôi không hứng thú với sự viên mãn kiểu đó. Tôi thà làm nửa người đứng đắn còn hơn thành quỷ sứ nguyên con. Tôi vào đây vì đã làm tổn thọ mười hai mạng. Tôi không hãnh diện. Tôi lấy làm tiếc việc phải tiêu phần đời còn lại của chính mình trong sở thú bê-tông và song sắt, giữa đám nửa người nửa ngợm. (Tôi phục vụ trong quân đội bốn năm, nhưng chuyện đó chẳng nhằm nhò gì so với tù.)

Hàng tuần, trước khi được uống Depo-Provera, một thần dược giúp giảm cơn dày vò tính đực, tôi là kẻ nửa người nửa quái vật, nhưng lúc này quái vật đang ngủ yên trong ruột, nên phần lớn tôi có thể được xem là người.

Tôi tổn thương, khích động và căng thẳng đến mức bất kỳ kích thích nhỏ nào - mẩu quảng cáo đồ lót, tách cafe, chiếc bánh donut - cũng đủ khiến tôi nghĩ: Máu! Tôi từng nghĩ thân thể mình là lưỡi dao dài, ngày ngày thọc về phía trước tìm kiếm nạn nhân.

Khởi đầu, tôi nhắm mắt giết bừa, như điên, chẳng triết lý, nhưng đến khi nạn nhân thứ sáu hoặc bảy gì đó câm miệng (Diana? Susan?), khi là kẻ duy nhất còn lại trong phòng, tôi bỗng nhận chân được mục đích. Hơn cả chuyện dứt bóng những mạng sống, tôi quan tâm việc tạo mối liên hệ với nạn nhân thông qua sự làm nhục. (Còn gì gần gũi hơn việc chia xẻ ô nhục). Sau phát hiện đó, mỗi lần chuẩn bị cắt cổ nạn nhân, tôi nói: “Giờ thì chúng ta đã biết bí mật nhau, đã hạ nhục nhau, chẳng còn gì ngoài việc gặp lại kiếp sau. Anh yêu em.” Quá xúc động bởi tuyên bố tình yêu, mắt tôi đẫm lệ. Tôi hôn hàm răng lạnh giá những người đàn bà.

Có một sự im lặng kỳ lạ sau mỗi lần ra tay. Có vẻ xác chết đang hút hết tiếng động thế giới vào quỹ đạo phân rã của nó. Ngay khi vừa giết xong, ta có cảm tưởng mình là người cuối cùng trên mặt đất. Một cảm giác thanh bình, tuyệt diệu. Người ta từng bịt mắt cả tá nô lệ ném vào vòng đánh nhau cho đến khi chỉ sót lại một mạng.

Sau nạn nhân thứ mười, tôi cảm thấy ngây ngất đến độ tin rằng Thượng Ðế sẽ gọi tôi. Tôi chăm chú nhìn chiếc điện thoại, chắc rằng nó sẽ reng. Tôi tin Thượng Ðế sẽ chúc mừng tôi việc tham dự trò đùa của ngài. Phụ nữ thông hiệp với Thượng Ðế ở điểm khởi đầu trò đùa bằng sinh sản. Ðàn ông ở điểm kết thúc, bằng giết chóc.

Mắt của nạn nhân thứ mười một mở trừng trừng. Tôi hơi run. Trong lớp dạy làm thơ, tôi được học về chủ nghĩa Tượng trưng và Siêu thực. Tôi viết: “Mắt là cửa sổ tâm hồn. Khi tâm hồn rời chỗ lưu tồn, mắt nên nhắm lại.” (Thầy giáo tôi, Mr. William, khen ngợi hiệp vần “hồn” với “tồn”, “sổ” với “chỗ”). Tôi tham dự tất cả những lớp học trong tù. Ðiều quan trọng là không phung phí thời gian và phải mở rộng chân trời hiểu biết.

Nhưng nhân tố lớn nhất giúp tôi hồi phục sự tỉnh táo là những trao đổi với một bạn thư, tên Julie.

Julie ở Úc. Nàng ba mươi chín tuổi, ly dị, và ung thư vú. Trong quá khứ, khi đau khổ của người khác là nguồn mạch hoan lạc của tôi, sự kiện sau cùng này sẽ khiến tôi ngây ngất. Nhưng giờ đây, tôi chỉ gởi lời an ủi đến nàng. Tôi cũng đều đặn tiêm cho nàng những liều bất hạnh của tôi, phóng đại khi cần thiết, để nàng cảm thấy dễ chịu khi so sánh. Tôi quan tâm Julie đến nỗi để giành lại hầu hết những chuyện tồi tệ nhất của đời sống ngục tù, chỉ chia xẻ khi nàng thật sự xuống tinh thần. Tôi nhạy cảm đến thế.

Tôi cũng lưu ý giữ cân bằng giữa những chuyện kinh tởm và những chuyện thuần túy khôi hài. Chỉ trong thư thứ ba, tôi kể chuyện những tay gác tù phải khám dái và đít tôi thế nào trước khi cho phép vào sân đi dạo. Làm phụ nữ cười là điều tốt. Nụ cười sảng khoái có thể trì hoãn ung thư. Nhưng tôi thấy bạn đang nhăn. Bạn thấy tôi rơi vào trò tự bốc thơm. Bọn tù chúng tôi vẫn thường được coi là chỉ quan tâm đến mình. Ðủ rồi. Tôi phải hít một hơi dài và đổi giọng đơn điệu.

Julie cho phép tôi dòm ngó vào đời sống thường nhật của nàng. Trước nay tôi chưa bao giờ quan hệ bình thường với phụ nữ. Nàng kể chuyện ăn sáng món gì, đọc sách gì. Nàng mô tả chiếc áo choàng đang mặc khi viết thư.

Thư của Julie không mùi. Giấy chẳng có mùi. Tuy vậy, nó đã được chạm vào bởi một phụ nữ, một phụ nữ bằng xương bằng thịt. Vì thế tôi áp chặt lá thư vào mũi hít lấy một cách ngây ngất. Ðây là mẩu giấy có mùi tuyệt dịu nhất trần đời. Tôi không ngại thú nhận rằng tôi cũng vuốt ve mảnh giấy lên những bộ phận khác của cơ thể.

Một vài tay trong tù lạm dụng bạn thư bằng những trò đại loại như yêu cầu các nàng ngồi lên máy photocopy, nhưng tôi không phải loại đó. Thực ra, tôi chưa xin Julie tấm ảnh nào.

Julie chưa bao giờ hỏi lý do tù tội của tôi. “Tất cả chúng ta đều có một quá khứ đáng tiếc,” nàng viết, “Em cũng vậy. Ai cũng có quyền giữ bí mật riêng mình. Nếu tất cả bí mật được phơi bày, chúng ta sẽ bị khai trừ vĩnh viễn khỏi xã hội loài người.”

“Nếu gặp em cách đây mười năm,” tôi viết, “anh đã không vào tù.”

Kiếp này tôi sẽ chẳng bao giờ được ôm Julie trong tay. Hẹn kiếp sau. Mặt khác, tôi lấy làm vui vì Julie ở rất xa, tôi sẽ chẳng bao giờ làm được chuyện khủng khiếp với nàng. Không phải tôi muốn chuyện như vậy. Julie sẽ không bao giờ là nạn nhân thứ mười ba. Ðiều quan trọng là trong đời, đàn ông ít nhất phải một lần có quan hệ thành công với phụ nữ. Giờ tôi đã làm được chuyện đó.

Bác sĩ tâm lý của chúng tôi, ông Fang, nói sở dĩ tôi sợ đàn bà là vì trong quá khứ họ đã bắt tôi chiều chuộng, ý tứ, đê tiện, hy vọng, và can đảm, tất cả những phẩm chất tôi không có, không bao giờ quan tâm phát triển. Ông nói: “Tất cả các anh đều sợ đàn bà. Ðó là lý do khiến các anh vào đây.”

Trong sâu xa tôi vẫn tin sẽ có ngày thoát khỏi nơi này. Có thể động đất hay một cuộc cách mạng sẽ khiến cửa tù bật mở. Có thể một cuộc xâm chiếm của người hành tinh. Có thể một thiên thạch.

Ðôi khi, khoảng trước giấc ngủ, lúc nửa tỉnh nửa mê, tôi mơ thấy đang thả bộ trên đường Pine ở Philadelphia. Nhưng mình không thể thả bộ được, đang ở tù mà! Trong giấc mơ chập chờn, tôi ý thức đang nằm trên giường, dưới tấm mềm mỏng ngứa ngáy, nhưng lại thấy rất rõ tiệm café Last Drop, đối diện bên kia đường là quán rượu Dirty Frank. Nếu thật tập trung, tôi có thể mở cửa Dirty Frank, bước vào. Tôi cảm thấy cơn giận khủng khiếp dâng lên, mắt mở to, nhìn thấy đáy giường gã bạn tù.

Một lần, trong tình trạng như vậy, tôi gọi gã bằng những cái tên ghê tởm mà tôi lập tức hối hận. Khi hắn thức dậy, tôi biện hộ vừa trải qua cơn ác mộng.

Gã bạn tù của tôi lập gia đình năm năm. Năm năm tuyệt diệu, hắn kể. “Tụi tao làm tình mỗi tuần hai lần, cãi nhau to tiếng mỗi tháng một lần, nấu nướng ngoài trời và đi biển mỗi mùa hè.” Nhưng hắn đã vứt bỏ tất cả chỉ vì bị ám ảnh bởi hình dạng những lưỡi kéo. “Suốt đời, tao bị thôi thúc không chịu nổi việc phải đâm đàn bà. Chỉ sau khi đâm chết vợ trong khi ả đang ngủ, chẳng vì lý do gì, bằng một chiếc kéo, tao mới nhận ra ham muốn thầm kín được ở tù. Tao muốn được ở giữa những thằng đàn ông. Tao muốn đến phiên mình được đâm để thỏa mãn số phận.”

Phan Nhiên Hạo dịch từ nguyên bản tiếng Anh “Two Intellectuals” trong Linh Dinh, Blood and Soap (New York: Seven Stories Press, 2004).

Sống trong đời, mà lại ví dụ như nhà tù, thì thật không phải. Thế nhưng, đời người có gì là phải hoặc không phải. Nói cho cùng, cũng chỉ là lý-luận phải trái với nhau, mà thôi. Lý và luận, hết mọi sự trên đời. Cả trong cuộc đời đi Đạo hoặc sống Đạo ở ngoài đời. Nhất nhất, cũng chỉ là những ngày dài trong cõi đời, nhiều ngày sống.

Nói cách khác, tất cả chỉ là những ngày đi Đạo trong đời người cũng suy-tư, nguyện cầu hoặc nói năng cho trọn ngày, đoạn tháng, cũng thế thôi.

Nói thế rồi, nay mời bạn, mời tôi, ta kết thức câu chuyện phiếm lai rai, đường dài khá lẩn thẩn và vô bổ. Nghĩ thế rồi, nay mời mọi người hãy cùng tôi kết thức những giòng chữ trải dài một cách vô duyên, vô bổ và vô tích sự, ở trong đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Và những ngày dài

Vẫn quan niệm

Tựa hồ như thế.

Trần Ngọc Mười Hai