• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Rồi anh sẽ hét, sẽ hét lên

“hét lên, gọi tên người yêu.
“Rồi anh sẽ khóc, sẽ khóc lên,
“Khóc lên, lòng đau triền miên.”
(Aline, Nhạc Pháp do Christophe hát – Phạm Duy đặt lời Việt)

(1P 3: 11-12)

Có “hét lên”, thì tiếng hét ấy phải chăng là tiếng thét ái tình? Thứ tình ái khi xưa đẹp là thế, mà nay chỉ còn là giấc chiêm bao, hay ác mộng? Có “khóc lên”, thì tiếng khóc nọ hẳn là tiếng khóc của “lòng đau triền miên”, chao đảo, cừ rối mù? Chao ôi! Khóchét, là “niềm riêng” đau khổ, tủi hờn, nhiều đoạ đày đấy chứ?  

Hét và khóc, còn là tình huống của vợ hiền khi đọc chúc thư chồng mình để lại, rất như sau:

“Em yêu,

Ai mà sống đời được mãi cơ chứ! Ai mà chả có lúc phải nói lời vĩnh biệt cuối cuộc đời, đâu nhỉ? Thế nên, trước khi đi, anh quyết để lại di chúc này để em nhớ mà làm theo lời anh dặn dò:

1. Em hãy mang cất ngay cái dàn Karaoke vào garage. Giọng em tối nào cũng rống lên như thế, nếu không có anh, thì con mẹ Ấn Độ sau nhà chắc phải nhẩy sang mà xé xác em ngay, thôi.

2. Tính em vốn không thích làm việc nhà, việc bếp, nên em hãy tái giá ngay để có kẻ hầu người hạ thay cho anh. Trong đám bạn của anh, anh đề nghị em lấy thằng Long, vì khi anh còn sống, anh ghét cái bản mặt thằng này nhất, lúc nào nó cũng vênh cái mặt lên cho rằng đời nó hơn anh hẳn mọi thứ. Lấy em xong, là kể như đời nó tàn, cứ xem nó còn huyênh hoang nữa hay không.

3. Nếu thằng Long không chịu lấy em, thì em hãy lấy thằng Hoàng. Thằng này đặc biệt rất nữ tính, bảo gì nghe nấy, nên em đỡ phải quát tháo như em từng quát tháo anh.

4. Dù thế, em cũng chớ lấy thằng Dư. Thắng này có võ nghệ Bình Định. Hỗn như em, thì nó có uýnh em không chết cũng u đầu. Tội nghiệp cho con anh vốn đã mất cha nay lại mồ côi mẹ.

5. Em cũng đừng lấy thằng Phú mắc bệnh đau tim. Tháng tháng thẻ “credit cards” của em mà liên tục nhận “bills” gửi về nhà, nội cái nhìn thấy “bills” như thế, là nó bị đột quỵ ngay lập tức. Khi ấy, em sẽ lại thành góa bụa lần nữa, mất thôi.

6. Nếu cả bốn thằng Long-Hoàng-Dư và Phú đều không chịu lấy em, thì em đừng có đi mỹ viện sửa sang lại diện mạo, hòng về sau có thể tái giá. Em cứ để dành tiền ấy mà nuôi con, vì anh biết chắc là các con nó sẽ chỉ còn da bọc xương trong vòng một tháng, là biết liền.

7. Em cũng đừng theo tục lệ người Việt mình, cứ nấu cháo hay cơm nhão cúng kiến làm giỗ cho anh mà làm gì. Bởi, em cứ nấu cháo là cháo khét, có mang xuống âm phủ thì cũng chỉ làm cho Diêm Vương thêm nổi giận. Còn cơm thường em nấu thì … thôi! anh miễn bàn. Em muốn cả địa ngục này lên cơn đau bụng vì ăn phải gạo sống của em, thì cứ việc nấu …. đi!
Yêu em thật nhiều và cũng chẳng cần hẹn gặp lại em ở kiếp sau.”

Người chồng hiền nhất của em.”

Đọc thư xong, hẳn vợ hiền nào mà chẳng “khóc” và “hét” cũng thật to để rồi sẽ cùng người nghệ sĩ hát nhạc ngoại cứ mải miết với ca từ buồn, ở đời, như sau:

“Ngồi buồn tủi ngoài đời,
tưởng như ngồi với người.
Người đã xa xôi.
Người đi mất hơi.”
Rồi tìm tìm hoài,
Rồi như ngóng đợi,
Người hỡi có ai,
Tìm Em giúp tôi!”
(Aline – bđd)

Vâng. Có lẽ là như thế. Có thể không như vậy. Như thế và như vậy, có là cứ “hét” và “khóc” cho cuộc tình của người đời, nào ai biết. Cả người trong Đạo từng cố sống đạo làm ngườì cũng đành chịu. Vẫn gặp trắc trở vì “tình đời đen/trắng đổi thay”, đến phát khóc. Và muốn hét. Khóchét, là: khóc cho phận hèn tình nhân vốn cảm nhận đời trong Đạo. Hoặc, kinh nghiệm Đạo trong đời, nào chẳng vui. Vui/buồn gì, nay vẫn mời bạn/mời tôi, ta cứ từ từ đọc mấy giòng chảy đầy lời nhủ khuyên của đấng thánh trong Đạo, đã từng bảo:

“Thật thế, ai là người thiết tha được sống
và ước ao hưởng chuỗi ngày hạnh phúc,
thì phải giữ mồm giữ miệng,
đừng nói lời gian ác điêu ngoa;
người ấy phải làm lành, lánh dữ,
tìm kiếm và theo đuổi bình an,
vì Chúa để mắt nhìn người chính trực
và lắng tai nghe tiếng họ kêu xin,
nhưng Người ngoảnh mặt đi,
không nhìn kẻ làm điều ác.”
(1P 3: 10-12)  

Giữ mồm miệng”, hay “làm lành lánh dữ”, hoặc “không nhìn kẻ làm điều ác”, nhất nhất là hành xử của người lành thánh, rất trong Đạo. Thế nhưng, sống đời đi Đạo và giữ đạo làm người, đếm được bao người thành công về chuyện ấy? Hay vẫn khóc và hét lên, khi đụng chuyện những trắc trở?

Trả lời cho vấn nạn, tưởng cũng nên tìm về quan điểm của đấng bậc thuộc tầm cỡ bậc thày về thần học và học về thần ở trường lớp, như tác giả hoặc học giả/học thiệt liệt kê ở bên dưới. Trước hết, là James A. Coriden, đấng bậc từng lên tiếng về cuộc sống người Công giáo đã lại tái giá thêm lần nữa, sau khi đã “khóc” và “hét” cũng khá nhiều về chuyện “hiệp thông” như sau:

“Nói làm sao, xử sự thế nào khi các cặp phối ngẫu vẫn cứ phải gò mình sống theo khuôn khổ văn hoá cổ buộc họ giữ luật Đạo khiến người tái giá ở vào tình trạng khó xử về đạo?

Thế hệ ta sống hôm nay, vẫn thấy nhiều cặp phối ngẫu đã thất bại trên tình trường, nên Hội thánh thấy có bổn phận phải giải quyết trường hợp ly dị và tái giá, coi đó như mục vụ hiệp thông. Thời nay, một số thần-học-gia nổi tiếng cũng như các nhà làm luật từng tham dự Công Đồng Vatican II đã bàn cãi về phương án đặt ra cho tín hữu nào đã ly dị rồi lại tái giá, để rồi giới có thẩm quyền trong Hội thánh đã khoanh vòng định ra một chính sách mục vụ chính thức. Năm 1981, Đức Gioan Phaolô đệ Nhị đã đưa ra nguyên tắc cho vai trò của Gia đình Công giáo sống ở thời đại bằng tông thư “Familiaris Consortio” minh định lập trường Giáo hội về việc này. Năm 1994, Hội Đồng Giáo Hoàng Giải Thích Luật Pháp cũng ra chỉ thị có liên quan đến người ly dị và tái giá chưa giải toả hôn nhân trước lại không bị dứt phép thông công ngăn cấm hiệp thông rước Chúa. Các vị này lại được phép ở trong Hội thánh, nhưng phải liên kết với người Công giáo khác, sẽ không được hiệp thông rước Chúa phi trừ họ chịu sống tách rời người phối ngẫu và chịu cảnh kiêng gần gũi xác thịt với người phối ngẫu, để chỉ sống như  anh/em, thôi”.       
       

Ý kiến rất khiêm tốn và đề nghị rất giới hạn của tôi, là: chấp nhận một số luật trừ. Đơn giản mà nói, thì lập trường tôi đưa ra là: người Công giáo sống đời hôn nhân khác biệt –cách riêng những vị nào từng tái giá theo luật đời sau ly dị, theo luật trừ, có thể được về lại tham dự bí tích Xá giải và Thánh thể. Theo thiển ý, lương tâm có tiếng nói quyết định được các cặp phối ngẫu đưa ra có sự giúp đỡ của vị linh mục hoặc thừa-tác-viên nào đó để có lại trọn vẹn các bí tích trên. Phương án mục vụ đặt nặng trên lương tâm, được đề bạt hoặc bác bỏ vào thời trước. nhưng bàn luận về vấn đề này vẫn tiến triển mạnh mẽ.” (James A Coriden, Conscience & Communion: What a Remarried Catholic to Do?, Commonweal 01/16/2012)

Thật ra, thì ý của người viết có lẽ là ý kiến khá thoáng về hiệp thông. Thật sự, thì khi xá giải không chỉ để các đương sự được hiệp thông. Và, hiệp thông đâu chỉ để mọi người được phép rước Chúa vào lòng, mà thôi. Nhưng, còn để về lại với cộng đoàn dân con đầy thương yêu, tha thứ, lẫn đỡ nâng. Tình thật, ơn xá giải đã thực sự được Thày Chí Ái hứa hẹn và thực hiện ngay khi có người anh/người chị trong cộng đoàn đến với Ngài để mong được chữa lành. Hiệp thông/chữa lành nói theo kiểu người đời, là nói bằng ca từ và/hoặc điệu nhạc có tâm tư, như một khóc/thét:

“Rồi anh sẽ hét, sẽ hét lên
Gọi tên người yêu.
Rồi anh sẽ khóc, sẽ khóc lên,
Lòng đau triền miên.”
(Aline – bđd)

Sở dĩ người anh nọ cứ hét và cứ khóc, là vì “lòng đau triền miên”, khiến anh vô phương hy vọng. Chẳng hy vọng được về lại với tình thương yêu cộng đoàn chuyên giùm giúp, chở che, bảo bọc. Sở dĩ anh vẫn khóc và vẫn hét, vì luật đạo cứ mãi gò bó, ràng buộc. Có khi còn ném anh vào chốn tối tăm, buồn tủi. Vốn buồn và tủi, nên đương sự trong cuộc lại sẽ hét và khóc theo kiểu nghệ sĩ lại cứ hát:

“Ngồi hoạ người tình, vào bãi cát vàng.
Hình dáng em ngoan, nụ cười ôi mến thương.
Rồi trời mịt mù, làn mưa rồi xoá nhoà.
Hình dáng nên thơ, chìm dần trong bão trưa.”
(Aline – bđd)

Bão trưa. Mịt mù làn mưa, những xoá nhoà. Xóa, ảnh hình “nên thơ” của người em mà anh đã vẽ lên cát. Ảnh và hình, là hình ảnh thương yêu vẫn có trong Đạo, nhưng hôm nay do bởi luật và lệ, nên đã thấy mờ nhoè chăng? Hãy lắng nghe thêm đôi lời đấng bậc vị vọng rày lên tiếng:

“Thật ra, tiến trình mục vụ giúp đương sự trở lại tham dự bí tích không đòi phải có phán quyết của giáo luật về hôn nhân xưa cũ; cũng chẳng quyết định về tính hiệu lực hay không hiệu lực của sự việc ấy. Nhưng, tiến trình nhận thức đạo đức về việc có được phép rước Chúa hay không sau khi đã hối cải và được Chúa thứ tha, đòi một số điều kiện. Thứ nhất, nếu đã có giải quyết theo luật đạo về tình cảnh của cặp phối ngẫu từng ly dị và tái giá, vẫn phải theo quyết định ấy. Nói nôm na, thì nếu cặp phối ngẫu này đã ra toà án hôn nhân hoặc Hội đồng thánh vụ của Giáo hội và hôn nhân hiện tại có hiệu lực, sau khi huỷ bỏ hôn nhân trưóc, vẫn phải thế. Tuy nhiên, nếu không làm như thế, vẫn còn có lương tâm giúp xét đoán. Tiến trình hoá giải để về với bí tích đòi phải có lương tâm chức năng phán xét cũng đòi nghiêm chỉnh tự kiểm, sau một thời gian…

Tiến trình hoà giải trên, không là động thái mang tính luật lệ. Cũng không là động thái của quyền uy cai trị ở trên, mà là phán xét đạo đức của lương tâm con người. Ai dính vào đó, tức cặp phối ngẫu từng tái giá và cố vấn mục vụ, không thực hiện và cũng chẳng đổi thay điều gì ghi trong luật, nhưng là qui định về đạo đức. Nó không xét đoán tính hiệu lực hay không của hôn nhân trước. Không ai có quyền hoặc được phép tiếp cận bí tích mà lại không xin phép các đấng bản quyền về chuyện này. Xét đoán như thế không có tính quyết định về luật mà là chỉ-thị về đạo đức/chức năng. Thủ tục thức tiếp cận bí tích hối cải và hiệp thông cũng không là phán quyết về giáo luật, mà chỉ là kiểm điểm lương tâm.

Lương tâm, theo truyền thống Công giáo, là biểu hiện nền tảng thánh thiêng về phẩm giá con người. Nói nôm na, đó là tiếng nói bên trong con người, giúp con người luôn tự vấn mà làm theo đề nghị của nó trong tiến trình phán quyết đạo đức. Hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” thời Công Đồng Vatican II gọi “Lương tâm là phần cốt lõi thánh thiêng ẩn kín bên trong con người. Nơi, con người một mình trực diện Thiên Chúa. Lương tâm là tiếng Chúa vang vọng nơi phần sâu thẳm của con người.” (James A Coriden, bđd)

Cụm từ “lương tâm con người”, sau này ít được nhắc nhở ở trường lớp cũng như ngoài đời. Có lẽ vì ít được đề cập, mà đám “trẻ người non dạ” thế hệ hôm nay ít đặt nặng, nên cứ coi chuyện “dối trá” như một thực tại hiện hữu bên mình, luôn theo mình? Đặt chấm hỏi ở đây, không có nghĩa một nghi ngờ về sinh hoạt đạo đức chức năng, có hiệp thông hay không? Ở xã hội tự gọi là văn minh tiên tiến, có thể hai chữ “lương tâm” không còn mang ý nghĩa gì hấp dẫn đối với những người sống vội, sống cho riêng mình. Nói gì “hiệp thông”!

Bởi, ngày nay người đạo hạnh nói chữ hiệp thông thường hay nghĩ về việc rước Chúa vào lòng, chứ đâu là ý niệm về một thương yêu, hoà đồng, hỗ trợ. Bởi, rước Chúa vào lòng, là để mình hiệp thông với các thánh ở thánh hội mà thực thi những gì Thày mình khuyên dạy. “Những gì“ đây, luôn là và vẫn chỉ là luật và lệ của tình thương yêu, đùm bọc hết mọi người. Cả những người không hoặc chưa được phép “rước” Chúa.

Thế nên, tác giả trích dẫn ở trên còn nói thêm đôi điều để ta kết thúc chuyện hiệp thông này:

“Cuối cùng thì, bàn chuyện “Hiệp thông rước Chúa”, thôi thúc ta xác tín về uy lực của  nuôi dưỡng, chữa lành và hoà giải của Thánh Thể. Còn lại, là niềm tin tưởng của tôi vẫn nghĩ rằng lương tâm con người luôn có vai trò định đoạt trong mọi quyết định ngõ hầu trọn vẹn tham gia vào việc cử hành bí tích xá giải và Thánh Thể. Tôi cũng lại tin rằng tiến trình có hướng dẫn về sự trở về tham dự Tiệc Thánh có các giai đoạn nhận thức đạo đức là chọn lựa chính đáng cho người Công giáo từng ly thân ly dị và tái giá. Nhưng, hỏi rằng có chăng một nguy hiểm về những ảo vọng hoặc dối trá nơi xét đoán từ lương tâm không? Chắc chắn là có, nhưng cũng có lý do để ta cứ liên tục suy tư hầu có được lời khuyên răn đúng đắn. Thần Khí Chúa từng dẫn dắt dân con Chúa chung thuỷ khi họ lĩnh nhận sự nhắc nhở của Ngài.” (James A. Coriden, bđd)

Có lẽ vấn đề lương tâm chức năng của con người cũng nên để tâm nhiều. Bởi, chừng như cả người đời đi Đạo lẫn người sống ngoài Đạo hôm nay, chỉ quan tâm nhiều đến thương vụ bạc tiền chứ nào nghĩ đến lương tâm và tâm can không dối trá của con người. Đến nỗi một số người thời nay lại đã quên mất hai chữ lương tâm, tức quan án nội tại bắt mình tự đánh giá hành vi đạo đức để sống đời lương thiện với xã hội. Mới đây, những vị quan tâm đến nền giáo dục ở quê nhà, có đưa ra chủ đề khá lạ kỳ để học sinh suy nghĩ thi viết về đề tài “sự dối trá trong cuộc sống”. Bần đạo không có trong tay chi tiết về luận văn thi, nên chẳng dám lạm bàn dài dòng, chỉ ước đoán lý do khiến các quan chức giáo dục bận tâm chuyện “lương tâm/lương thiện”, thôi.

Về lương tâm/lương thiện, có truyện minh hoạ điều bà con mình bàn ở trên, như sau:

“Truyện rằng:

Có lão ông người Ý nọ sống một mình trong nhà ở tiểu bang New Jersey, nước Mỹ. Ông cụ này muốn trồng cà chua trong khu vườn nhỏ của mình, nhưng ông không thể làm được việc đó, vì đất trong vườn ông khá cứng cũng khó đào. Trước đây, con trai ông là Vincent thường giúp ông làm công việc nặng nhọc ấy, nhưng giờ thì con ông đang nằm tù. Lão ông nghĩ cách một hồi, rồi lấy giấy bút viết thư gửi cho con trai đang ở tù với nội dung như sau:

"Vincent à,

Bố cảm thấy khá buồn vì có lẽ con không còn có thể giúp bố đào xới khu vườn để trồng cà chua như mọi năm, mà bố thì đã quá già không thể làm được việc đó. Nếu có con ở đây, chắc chắn mọi việc sẽ ổn thoả và con cũng sẽ rất vui khi giúp bố như những ngày xưa ấy.
Yêu con hết lòng,

Bố của con.”

Vài ngày sau, lão ông nhận được lá thư hồi đáp của người con trai từ trại tù, rằng:

"Bố à,

Bố đừng đào xới khu vườn nhà mà làm chi. Bởi, mới đây con đã chôn sâu những kẻ con từng giết chết ở dưới ấy rồi. Có đào lên cũng thối um nhà chẳng được tích sự gì đâu, bố nhé.
Con yêu bố,

Vincent của bố"

4 giờ sáng hôm sau, đặc vụ FBI và cảnh sát địa phương lập tức tới nhà lão ông, phong tỏa mọi đường vào và đào xới thật sâu khu sau vườn nhà ông quyết tìm kiếm thi thể của những người bị giết chết. Nhưng lạ thay, họ không tìm thấy thứ gì, ngoài sỏi đá.

Ngay hôm đó, lão ông lại nhận được thư khác của người con trai yêu quý nay vắng bóng:

"Bố thân yêu,

Giờ thì bố có thể gieo hạt mà trồng cà chua được rồi đấy!
Đó là điều tốt nhất con có thể làm cho bố trong hoàn cảnh này.
Yêu bố hết lòng,

Vincent của bố".

Và, truyện kể chỉ có thế. Không dài, cũng không ngắn, chỉ cốt vui.”

 Thật ra, truyện kể trên chẳng có gì độc đáo để bạn và tôi, ta bàn thêm hầu minh hoạ cho điều vừa đề cập. Nhưng, điểm độc đáo ở đây là lời bàn của người kể cứ lôi kéo người đọc vào đề tài mình muốn nói, trong khi kể. Lời bàn là bàn rằng: trong cuộc sống ở đời, có những điều xảy đến thật không ngờ. Và, chẳng mấy thích. Như chuyện hiệp thông/chung sống giữa hai người và nhiều người, ít người quan tâm để ý. Mà, chỉ để ý đến luật và lệ cốt ngăn chặn hiệp thông. Đôi lúc, có người còn hiểu cụm từ hiệp thông theo ý khác, khiến rối bời. Cũng tựa như hai động từ ở bài hát, ta nghe thêm:

“Rồi anh sẽ hét, sẽ hét lên
Gọi tên người yêu.
Rồi anh sẽ khóc, sẽ khóc lên,
Lòng đau triền miên.”
(Aline – bđd)

            Hãy cứ hát, chứ đừng hét hoặc khóc, dù gặp phải những điều trớ trêu đang xảy đến, cứ diễn tiến mãi hôm nay. Hãy cứ hát chứ đừng hét và đừng khóc, dù đời mình có diễn tiến như tác giả vẫn diễn tả bằng câu ca bảo “Lòng đau triền miên”, nên mới “Gọi tên người yêu.” Dù người yêu hay bạn thân ấy cứ sờ sờ trước mắt, ở thánh hội. Chẳng hiệp và cũng chẳng thông, bao giờ.

            Trần Ngọc Mười Hai
            Cứ suy nghĩ mãi
            về cụm từ Hiệp thông
            nhưng không đạt.
            Nói chưa thì đúng hơn.

Trời hỡi, nhờ ai cho khỏi đói