• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tôi yêu tiếng nước tôi,

“từ khi mới ra đời, người ơi.

Mẹ hiền ru những câu xa vời.

À à ơi! Tiếng ru muôn đời.”

(Phạm Duy – Tình Ca)


(Ga 3: 34-35)

  “Tôi Yêu tiếng nước tôi”, một lần nữa, lại được hát sĩ “cây nhà lá vườn” trổi giọng ở buổi Hát Cho Nhau Nghe hôm 18/11/2013 ở Sydney, nghe rất thấm thía cảm động. Chủ đề “Những Nẻo Đường Quê Hương”, hôm ấy còn nói lên tình yêu thương không chỉ mỗi “tiếng Việt” của người Việt mình, mà còn yêu cả đến “tiếng muôn đời”, của “mẹ hiền ru những câu xa vời”? Hoặc, cả câu hát của người nghệ sĩ hôm nào còn muốn hát, những lời sau đây:

 

“Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
Tiếng nước tôi ! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi
Tôi yêu tiếng ngang trời
Những câu hò giận hờn không nguôi
Nhớ nhung hoài mảnh tình xa xôi
Vững tin vào mộng đẹp ngày mai.”

(Phạm Duy – bđd)

 

Trích và dẫn ở đây, đôi lời ca hôm nay, cũng để nhắc bạn và tôi về nhận định của cụ Phạm Quỳnh khi xưa cứ bảo: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”

Hôm nay đây, tất cả vẫn còn đó, nước Việt lẫn tiếng Việt của người viết và người đọc, rất truyện Kiều, ở dương gian. Thế nhưng, có một nghệ sĩ khác cũng họ Phạm lại vẫn hát, những câu ca rất da diết, như:

 

“Một yêu câu hát Truyện Kiều

Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta

Và yêu cô gái bên nhà

Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên...”

(Phạm Duy – bđd)

 

Cũng một ý tưởng về “yêu tiếng nước tôi” và yêu “câu hát Truyện Kiều” này, hai tác giả cùng họ Phạm lại diễn giải theo cách khác biệt. Khác, ở chỗ: cũng vẫn cùng nói một thứ tiếng, cùng hát một lời ca, nhưng ý-tưởng thì khác. Khác ở chỗ, nghệ sĩ viết nhạc chú trọng và yêu thương mọi người, mọi vật tựa bác nông phu, trẻ quê, đàn trâu, từ giòng sông đến các anh hùng hào kiệt rất người Việt ..., tựa hồ muốn nói về lý lẽ để yêu và thương, như:

 

“Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu

Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo

Mình đồng da sắt không phai mầu

Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao

Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi

Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao

Dắt dìu nhau vào đến Cà Mâu, áo ơi

Tôi yêu biết bao người

Lý, Lê, Trần... và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai.”

(Phạm Duy – bđd)

 

Có điều là: dù bạn có yêu tiếng nước của bạn, dù tôi không thuộc cùng một giòng tộc rất họ Phạm, vẫn muốn hỏi cho yên trí xem ai là người đuợc tiến lên bục giảng ở nhà thờ để có hát và sẻ san qua những câu hỏi han sau đây:   

 

“Giáo xứ con may thay vẫn còn có linh mục tuy không trẻ, nhưng sốt sắng làm lễ mỗi ngày trong tuần, rất đạo đức. Tuy nhiên, điều con thấy hơi lạ kỳ, là: linh mục chủ-tế vẫn cứ ngồi ở ghế bành mà nghe đọc chứ không đích thân đọc Tin Mừng cho giáo dân nghe và hiểu. Con tự hỏi: không biết linh mục làm thế có đúng không? Nếu vậy, thì ai cũng có thể đọc sách Tin Mừng cho mọi người nghe sao?” (Lại một câu hỏi của người không tên, phải chăng đây chỉ là gợi ý của cha Đạo đưa ra, chắc thế)

Thôi thì, ai đưa ra câu hỏi cũng đâu thành vấn đề. Chỉ thành vấn đề khi chẳng ma nào chịu hỏi han chuyện giáo lý với phụng vụ, mà chỉ muốn hát hò bài xưa cũ, rất như sau:   

 

“Tôi yêu những sông trường

Biết ái tình ở dòng sông Hương

Sống no đầy là nhờ Cửu Long

Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong

Người yêu thế giới mịt mùng (*)

Cùng tôi ôm ấp ruộng đồng (ừ đồng) Việt Nam

Làm sao chắp cánh chim ngàn

Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng (à hàng) mến nhau

(Phạm Duy – bđd)

 

Thật ra thì, bạn và tôi, ta có yêu “những sông trường”, “yêu thế giới mịt mùng”, “nhìn Trung Nam Bắc kết hàng... yêu nhau.” Vẫn cứ là những yêu và yêu. Yêu của tiếng nước của mình, lẫn yêu cả cung cách đọc sách thánh rất Tin Mừng, ít khi yêu. 

Yêu gì thì yêu. Thích gì thì thích. Chẳng lẽ, thừa-tác-viên nào đó lại ưa và thích cả chuyện đọc sách thánh hoặc Tin Mừng mà khi xưa chỉ dành cho thày sáu, thày cả mà thôi. Thế thì, các thừa tác-viên không chức thánh có được phép đọc sách thánh cho mọi người nghe không? Dưới đây là câu trả lời rất chính qui/chính mạch vì vẫn hợp với luật phụng vụ. Thôi thì, hãy cứ nghe đấng bậc biện bạch, biện giải khá rạch ròi, như sau:

 

“Điều trước tiên tôi muốn nói cốt để làm sáng tỏ điều mà ta có thói quen gọi là “Chia sẻ Lời Chúa”, để các anh/chị và mọi người trong Đạo mình biết việc đó có nghĩa gì. Bằng vào việc này, đây là bài diễn giải Lời Chúa sau Phúc Âm, thông thường dựa trên các bài đọc trong thánh lễ, để giải thích ý-nghĩa của bản văn Kinh thánh, và khích lệ người nghe đưa vào thực hiện, trong sống-thực, hằng ngày.

 

Như Đức Bênêđíctô 16 có nói rõ trong Tông Thư do ngài viết mang tựa đề Sacramentum Caritatis (Bí-tích Tình Thương), thì “Chia Sẻ Lời Chúa” là thành-phần phụng-vụ mang ý-nghĩa hỗ-trợ cho sinh hoạt đạo-hạnh để người nghe hiểu được Lời Chúa nói có nghĩa gì và, nhờ đó mọi người có thể thực-thi lời Ngài răn dạy hầu tạo hoa quả trong cuộc sống thường nhật của các kẻ tin”. (xem Tông Thư Sacramentum Caritatis đoạn #46)

 

Bài “Chia Sẻ Lời Chúa” còn mang ý-nghĩa quan-trọng nhiều hơn nữa khi Giáo Luật của Đạo có đoạn nói rõ: “Các thánh lễ ngày Chúa Nhật và Lễ buộc được cử hành có sự tham dự của đám đông tín hữu, vẫn phải có bài Chia Sẻ và ngoại trừ trường hợp có lý do chánh đáng, còn thì vị chủ tế không thể bỏ sót việc này được.” (xem sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đoạn 767 câu #2)

 

Hơn nữa, sách Giáo Lý Hội Thánh còn khẳng định: “Giáo hội mạnh mẽ khuyên con dân mình rằng: nếu có nhiều giáo dân đến tham-dự thánh-lễ trong tuần, thì vị chủ-tế vẫn nên diễn-giảng các bài đọc, đặc biệt là trong Mùa Vọng cũng như Mùa Chay, hoặc vào ngày lễ trọng hoặc nhân dịp có giáo dân vừa qua đời, về với Chúa.” (xem Giáo Lý Hội thánh Công giáo đoạn 767 câu #3)   

 

Nhưng hỏi rằng: ai là người được phép ban những lời diễn giảng như thế? Thì, Giáo Luật của Đạo nói rất rõ: “Loại-hình giảng-giải quan-trọng nhất chính là bài “Chia Sẻ Lời Chúa”, tức thành phần của phụng vụ vẫn dành riêng cho linh mục hoặc phó tế, thôi.” (xem Giáo Lý Hội thánh Công giáo đoạn 767 câu #1)

 

Chỉ thị Hội thánh mang tên “Redemptionis Sacramentum” do Thánh bộ Phụng vụ và Kỷ luật Bí tích ban hành ngày 25/3/2004 dựa trên điều khoản Giáo luật kể trên, đã khẳng định thêm rằng: “Thông thường thì, bài “Chia Sẻ” phải do vị chủ tế ban bố. Vị này cũng có thể ủy thác công việc đó cho một linh-mục đồng tế có mặt vào lúc đó; hoặc đôi khi, tùy hoàn cảnh cho phép, ngài cũng có thể ủy thác cho vị phó tế, nhưng không bao giờ cho giáo-dân.” (xem Chỉ thị Redemptionis Sacramentum đoạn #64)

 

Chỉ thị Hội thánh còn tiếp tục đi xa hơn bằng việc ngăn cấm các giáo-dân không được phép giảng trong thánh-lễ cũng áp-dụng cho các chủng-sinh, sinh-viên thần-học và những ai có trọng trách như “thừa-tác-viên phụ giúp mục-vụ”, hoặc vào trường-hợp nào đi nữa, cũng không có luật trừ cho phép bất cứ giáo-dân nào, hoặc nhóm hội, đoàn thể hoặc cộng-đoàn được làm thế.” (xem Chỉ thị Redemptionis Sacramentum).

 

Hỏi rằng, tại sao Hội thánh lại gắt gao về chuyện này đến là thế? Để trả lời, ta có thể qui về với Tông Thư của Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 mới đây có nhan đề Verbum Domini (Lời của Chúa) trong đoạn văn nói rõ ràng về tầm quan-trọng của việc “Chia Sẻ Lời Chúa” như sau: “Những ai có thần-vụ rao giảng do có chức thánh hoặc lâu  nay được tin-tưởng ủy-thác cho công-cuộc thừa-tác nói trên, chẳng hạn như: các Giám mục, linh-mục và phó tế, là những vị được phép dẫn-giải Lời của Chúa.” (xem Tông Thư Verbum Domini đoạn 59)

 

Xem như thế, thì Chia Sẻ Lời Chúa là việc của Thần-vụ Phụng vụ của Hội thánh, một trong 3 thần-vụ do Đức Kitô thực hiện hoặc Chúa ủy thác cho Hội thánh qua thần-vụ giảng giải, thánh-hoá và quản-cai.

 

Các vị có chức thánh, như: Giám mục, linh mục và phó tế lâu nay được chuẩn-bị cho vai trò rao giảng này phải nghiên-cứu học hỏi rất chuyên sâu về Thánh Kinh, thần học, triết-lý, vv.. và từ đó Hội thánh mới tin-tưởng ủy-thác cho các vị ấy sứ mạng nhân danh Hội thánh mà chính-thức rao giảng trong nghi-thức phụng-vụ.

 

Có như thế, thì các giáo dân tham-dự thánh-lễ mới tin tưởng rằng: các đấng bậc vị-vọng trong Đạo mỗi khi chia sẻ Lời Chúa đều đã chuẩn-bị kỹ-lưỡng cho thần-vụ này.

 

Lại hỏi rằng: điều đó phải chăng có nghĩa rằng: các giám-mục, linh-mục và phó-tế đều là những nhà rao giảng tốt cả sao? Không hẳn là như thế. Nhiều trường-hợp các giáo dân trổi-trang trong cộng đồng dân Chúa rất giỏi về thần-vụ này cũng có khi giảng hay hơn các vị nói ở trên. Thế nhưng, Hội thánh với đặc-trưng khôn-ngoan của người mẹ hiền, vẫn muốn bào-đảm với bà con giáo-dân mình rằng những ai diễn giải Tin Mừng, ít nhất, đều đã được học kỹ các khoá thánh kinh trong thời gian lâu dài, mới được làm thế.

 

Nói như thế, không có nghĩa: Hội-thánh đôi lúc cấm cản linh-mục yêu cầu một giáo-dân trổi-trang nào đó nói về một số dự-án trong giáo-xứ, về sứ mạng mục-vụ này khác, vv.. Tuy nhiên, thông thường những chuyện như thế, phải thực hiện vào cuối lễ, trước khi linh-mục chủ-tể đọc lời nguyện sau phần Hiệp-thông/Rước Lễ hoặc sau khi thánh-lễ đã đến hồi kết-thúc, chứ không thay thế cho bài Chia sẻ Lời Chúa, sau Phúc Âm.

 

Cũng vậy, ở một số nơi rõ ràng là không có đủ linh-mục hoạt-động mục-vụ, thì vị Giám-mục chủ-quản địa-phận nào đó cũng có thể ban phép cho vị nào không có chức-thánh được nói vào nghi-thức Hiệp-thông hoặc vào buổi “Phụng-vụ Bẻ-Bánh Lời Chúa”, nhưng việc này “không thể biến thành biện-pháp ngoại-lệ để trở thành một nghi-thức thông-thường, hoặc cũng không được hiểu như loại-hình thực-thụ của việc thăng-tiến vai-trò của giáo dân được.” (xem Tông Thư Redemptionis Sacramentum đoạn 161; xem thêm Giáo Luật số 766)(Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 13/2/2011,tr.10)                                

 

Ý kiến của đấng bậc vị vọng nói ở trên, rất chính qui, đúng luật-lệ và hợp với giòng chảy chính-mạch của nhà Đạo. Nhưng, ở trời Tây hôm nay, có người lại cứ hỏi, rằng: bạn và tôi, trong tình-huống thế giới thời hiện tại, ta có hoàn toàn đồng ý với đấng bậc trên như thế hay không, cũng còn tùy. Tùy bạn, tùy tôi, ta sống giữa đời vẫn cứ im lặng mà sống. Sống, không cãi tranh, biện luận chuyện được phép này nọ không, mà là: có quên sót việc sẻ san/áp dụng Lời Chúa đi đôi với lời khuyên của “lương tâm” người đời, để rồi vào thời và nơi không còn đấng bậc nào có sẵn và chịu đứng trên đó mà diễn hoài, giải mãi Lời của Chúa, thì sao đây?

Và, vấn đề đặt ra hôm nay, là hỏi thêm rằng: Lương tâm con người có cho phép ta làm những việc đó không? Lương tâm nay là gì? Có quí giá không, để mọi người dựa vào đó có được cuộc sống chính đáng, để sống cho ra sống đúng chức-năng, vai trò và trọng trách của mình?

Thay vì trả lời thẳng vấn đề, đề nghị tôi đề nghị bạn, ta đi vào thế-giới truyện kể để minh-hoạ và minh-oan cho người thời đại ở quê tôi và quê bạn, nói về lương-tâm như sau:

 

Hà Tam là tài xế xe chở hàng hóa. Hôm nay, xe đang bon bon chạy trên đường bỗng nhiên "khực" một cái rồi dừng lại. Hỏng rồi! Hà Tam xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe. Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Hà Tam lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp.

 

Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to: "Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!". Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Hà Tam đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy. Hà Tam toét miệng cười, nói do vội đi nên quên mất. Nói vậy song anh ta vẫn cố ý nhấn ga cho xe chạy.

 

Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to:

-Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ! Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta...

Những lời trách cứ của ông lão chăn bò bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe.

 

Hà Tam cười thầm trong bụng: Lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân?

Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Hà Tam hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Hà Tam thừ người ra: Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy? Cẩn thận nhớ lại, Hà Tam mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Hà Tam vội vã vẫy taxi quay lại chỗ sửa xe.

 

Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Hà Tam tìm khắp nơi không thấy cái ví cũng không thấy ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo: "Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi".

 

Ôi mẹ ơi! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Hà Tam kêu to lên: "Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!".

 

Khi Hà Tam vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ: "Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi". Hà Tam tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Hà Tam cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Hà Tam đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên.

 

Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Hà Tam vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

 

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Hà Tam vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Hà Tam vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi.

 

Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu.

Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết:

 

"Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó.

Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi.

 

Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý: " Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm". (trích truyện kể rút từ bài các lời của Đức Đạt Lai Lạt Ma)

 

Lương tâm, lương hướng hay lương tiền đều bắt đầu bằng chữ “lương”. Tuy là thế, vẫn có thứ “lương” rất thiện, có thứ chỉ thu và nhập rồi ở lại với con người, như: lương tri, lương thực và một đống như lương đống, lương bổng hoặc lương lậu, cũng rất hậu.

Nói chung, thì: khi đã có “lương” tâm (tức: lương và tâm rồi), thì con người của ta cũng sẽ khá hơn lên. Khá, để mà yêu và để sống. Nói tóm, có lương hay có tâm, là có tất cả, không mong gì khác. Có lương và tâm hoặc lương gì đi nữa, cũng dẫn đưa con người đi vào chữ “yêu”. Yêu, không chỉ mỗi ”tiếng nước tôi”, mà nhiều thứ khác, như nghệ sĩ nọ còn hát:

 

“Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
Nhìn trùng dương hát câu no lành
Ðất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn
Ðất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi
Ðất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng
Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi: http://www.lyricenter.com ]
Vì yêu, yêu nước, yêu nòi
Ngày Xuân tôi hát nên bài (ư bài) tình ca
Ruộng xanh tươi tốt quê nhà
Lòng tôi đã nở như là (ừ là) đoá hoa..”

(Phạm Duy – bđd)

 

Hát và ca cho “đã”, cho “bưa” cả thế hệ rồi, hỡi bạn và tôi, nay ta đi vào truyện kể để thân thể của ta được thư giãn, để mà yêu. Yêu, “tiếng nước tôi” vốn có nhiều điều không dễ hiểu và dễ yêu, nhưng vẫn thích. Thích nghe hơn thích nói, nhất là thứ tiếng hoặc thứ tên gọi cũng rất ư là “tục ngữ” ở quê miền ngàn năm văn hiến, văn minh với văn vật, như sau:

 

“Ở nhà quê nước ta khi xưa, có tập tục đặt tên cho con mình nghe rất xấu. Càng xấu càng dễ nuôi. Thế nên, mới thấy có chuyện: nhà nọ có 4 người con trai được song thân phụ mẫu đặt cho cái tên gnhe rất kêu, nhưng không được thanh tao cho lắm, nào là: Chim, Cút, Đớp, Thiến.

 

Một hôm, ông bố ở nhà vừa đi khỏi, đã thấy ông bạn già mặt mũi hơi lạ đến chơi. Người vợ tuy chưa thấy mặt bạn của chồng bao giờ, vẫn ân cần tiếp đón, nghĩ cũng vui. Đến bữa ăn, người vợ, theo thói quen, vẫn hét to từ dưới bếp, bảo với thằng Út rằng thì là:

-Dọn cơm cho Bác đi, Đớp!

Người bạn thoạt nghe thấy đã hơi phật lòng, chỉ dám ăn qua loa vài gắp rồi đứng dậy. Thấy vậy, người vợ, lại cũng đứng từ xa, bảo với cậu con thứ hai, rằng:

-Múc nước rửa cho Bác, này Chim!

Lần này, ông bạn già giận tím mặt, liền chào cả nhà ra về. Người vợ cứ ớ người ra, không hiểu làm sao lại thế, bèn bảo thằng con thứ ba, rằng:

-Dắt xe cho Bác, Cút!

Đến lúc này, ông bạn “già” không tài nào nhịn được nữa, vừa đi vừa nói lẩm bẩm những gì khiến vợ của bạn nghe không rõ, người vợ cứ tưởng ông khách cần người đưa ra khỏi cổng làng cho yên tâm, bèn sai thằng Út rằng:

-Đưa Bác ra cổng đi, Thiến!...”(truyện cười dân gian kể trên mạng tiếng Việt rất dễ nhận)

 

Thế đấy, là “tiếng nước tôi” rất đáng yêu và đáng mến, vẫn “còn” “từ khi mới ...ra đời”. Thế đấy, là lập trường không chỉ của ông Trạng họ Phạm tên Quỳnh mà thôi, nhưng là của mọi người, ở chốn gian-trần khi được đấng thánh-hiền dặn bảo, rất chí lý rằng:

 

“Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi,

thì nói những lời của Thiên Chúa,

vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn.

Chúa Cha yêu thương người Con

và đã giao mọi sự trong tay Người.

Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời."

(Ga 3: 34-36)

 

Thành thử, có nói gì thì cứ nói, chỉ nên nói những lời được Đấng Thiên Sai bảo ban, hoặc đã “ủy-thác” cho mọi sự để rồi: ai tin “vào người Con thì được sự sống đời đời.” Đó, không chỉ là “tiếng (của) nước tôi”, tôi vẫn yêu từ khi mới ra đời. Mà là bổn phận ta phải duy trì khi không còn đủ người duy trì và rao truyền tiếng ấy/bài sai ấy đến muôn thời, mãi khôn nguôi.

 

Trần Ngọc Mười Hai
Đương nhiên vẫn nói và vẫn yêu
tiếng nước tôi,
của Chúa Trời và của người Con,
để còn tin
và được sống đời đời

Trần Ngọc Mười Hai

Suy niệm Chúa Nhật 4 Mùa Vọng - A -Họ không dại khờ: góp trăng thành nến,