• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

“Trông Em xinh xinh mắt tình tình,”

“Đôi môi tươi tươi, má hồng hồng.

“Mái tóc phất phới bay như gió đưa làn sóng.

(Võ Đức Phấn – Cùng Một Kiếp Hoa)


(2Thes 1: 3-4)

Hát những lời, tựa hồ: “Đôi môi tươi tươi má hồng hồng”, “mái tóc phất phới bay như gió đưa làn sóng”, rồi gọi đó bằng tựa đề: “Cùng Một Kiếp Hoa” thì ôi thôi, đúng là lời thơ, và ý nhạc rất “mê tơi”. Mê tơi, điều mà bần đạo muốn nói không phải là trạng thái tâm hồn rất choáng váng, mê mẩn, dồn dập những mê say; mà chỉ là động thái rất tâm tình mà người đặt nhạc còn cứ hát:  

“Đôi mi cong cong sắc huyền huyền,

Tay em bon bon thoáng nhìn đời,

Mắt thấy ướt luôn như đắm lệ từ lâu.”

(Võ Đức Phấn – bđd)

Tâm trạng và cảnh huống của các vị mang nặng “một kiếp hoa” đến như thế, có là trạng huống của các bậc nữ lưu vị vọng xuất hiện ở Tin Mừng có nhiều không? Hỏi như thế, không có nghĩa phải có câu trả bằng lời ngay tức khắc. Như câu hỏi, một lần nữa được gửi đến đấng bậc nhà Đạo ở Sydney với lời lẽ cũng tự nhiên của vị độc giả nhiều lần thực hiện “đàng thánh giá” vào những ngày Tuần thánh, cũng thắc mắc.

Thắc mắc rất mực, như câu hỏi đơn sơ tốt lành của người mộ đạo, mộ cả người đi Đạo có những hành xử đạo hạnh, như sau:    

“Mỗi lần thực hiện các chặng đàng thánh giá theo chân Chúa đi vào khổ đau, phiền sầu, bản thân con vẫn bị “lung khởi” bởi sự kiện xảy ra ở chặng đàng thứ sáu, qua đó thấy có bà Vêrônica lấy khăn cho Chúa lau mặt. Con có đọc Tin Mừng nhưng lại không thấy nói gì về việc này. Vậy, theo cha, truyện kể ở 14 chặng đàng thánh giá, có thật chăng? Truyện này dựa trên cơ sở nào? Con hỏi để biết chứ không muốn làm khó cha đâu, Xin cha tha lỗi.”

Cha có tha hay không, trước hết, vẫn mời bạn mời tôi, ta nghe thử một truyện kể cũng hơi bị “hư cấu” một chút, nhưng vẫn nói lên được đôi điều, rất như sau:

“Người con trai nọ, thấy mình không còn khả năng nuôi nổi mẹ già được nữa, anh bèn quyết định cõng mẹ lên núi bỏ đó, sống một mình. Tối đến, người con nói với mẹ: “Con cõng mẹ lên núi đi dạo một chốc cho nó thoáng, mẹ nhé!” Bà mẹ lấy hết sức bình sinh đeo lên vai của con mình một bao vải cũng không nặng. Trên đường dốc đi lên, anh ta nghĩ mình phải leo lên chỗ nào rõ thật cao mới bỏ mẹ xuống để mẹ không tài nào về được nhà mình.

Bỗng anh nhìn trên vai mình thấy mẹ đang cố giấu những hạt đậu rải suốt đoạn đường đi, quá tức giận anh bèn hỏi mẹ:

-Mẹ rải đậu lên đồi để làm gì thế?

Câu trả lời của người mẹ đã khiến anh bật khóc:

-Ngốc ạ! Mẹ sợ lát nữa “còn mỗi mình con đi xuống núi sẽ lạc đường. Con tuy lớn xác là thế vẫn là con nhỏ của mẹ, Đi hết cuộc đời mình, lòng mẹ vẫn ở với con, và theo con.”

Lòng người mẹ đối với con, vẫn không khác lòng người nữ phụ trên đường tiễn đưa Chúa đi vào chốn lặng thinh, im ắng, đầy khổ đau. Và lời đáp của đấng bậc về sự kiện “Vêrônica”, như sau:

“Sự kiện được kể ở chặng đàng thứ 6, có bà Vêrônica lấy khăn vải lau mặt Chúa trên đường Ngài đi lên núi Canvariô, để lại thánh tích in trên đó. Sự kiện này, dĩ nhiên không mang tính sử học nào để ai đó có thể kiểm chứng, nhưng truyền thống Giáo hội vẫn kéo dài nhiều thế kỷ, suốt chặng đường.

Thật ra thì, tên gọi “Vêrônica” từ tiếng La tinh dọi về lại ngôn ngữ Hy Lạp có các bà mang tên, như: Bêrênicê hoặc Bêrônika, nhưng truyền thống khi xưa vẫn cứ quay về với tiếng La tinh có chữ “vera” tức rất thật. Và, ngôn ngữ Hy Lạp lại có tiếng “eikona” tức: ảnh hình, tượng mẫu, để cắt nghĩa rằng: tên của nữ phụ hôm ấy là hình ảnh rất thực hoặc mẫu tượng chính xác qui về người nữ từng đưa khăn cho Chúa lau mặt, đầy mồ hôi cùng máu.

Tác giả Eusebius ở Xêdarê trong cuốn sách ông viết có tựa đề “Historica Ecclesia”, tức: “Lịch sử Hội thánh” ở đoạn VII câu 18 có gán tên Vêrônica cho nữ phụ được Chúa chữa lành khỏi chứng “rong huyết” ở Tin Mừng thánh Mát-thêu đoạn 9 câu 20. Dù, truyền thống phương Tây vẫn coi nữ phụ này là Mác-ta thành Bêtania. Nhưng, tên của chị Vêrônica đã thấy xuất hiện vào thế kỷ thứ tư ở bản văn ngụy tạo với tên gọi như Acta Pilati, tức: Hành quyết của Philatô.

Thời Trung cổ, cũng có một số bản văn nêu tên Vêrônica kèm theo chuyện khăn lau mặt Chúa. Trong số đó, có sách lễ cổ mang tên Augsburg có ghi lễ kính thánh “Vêrônica và mặt Chúa ướt đẫm”. Tác giả Mátthêu thành Westminster cũng nhắc đến sự kiện về “Bức hình in mặt Chúa gọi là khăn Vêrônica” và dần dà, chúng dân lại đã lẫn lộn tên của khăn này với tên của phụ nữ.

Truyện kể về bà Vêrônica đã trở thành câu chuyện truyền thống khá ăn khách trong giới nhà Đạo. Có truyện còn kể rằng bà Vêrônica ấy đã mang tấm khăn chùi có diện mạo Đức Kitô trên đó, về Rôma rồi dùng nó làm phương sách chữa bệnh cho Hoàng đế Tibêrius (14-37). Bà Vêrônica từ đó được coi như đã xuất hiện ở Rôma vào thời thánh Phêrô và Phaolô sinh hoạt giảng rao, và rồi bà cũng qua đời tại đây…

Ở vào trường hợp nào đi nữa, khăn lau chùi này vẫn còn giữ và trưng bầy tại Rôma cho mọi người đến kính viếng….” (xem Lm John Flader, Question time, The Catholic Weekly 07/4/2013, tr.18)    

Khăn chùi để tỏ lòng cung kính hay lòng mẹ để tưởng niệm, thì như thế. Tình người nữ phụ Do thái tên Vêrônika, vẫn như vậy. Như thế và như vậy, là tâm là tình của nữ phụ ở mọi thời. Không chỉ ở mỗi thời của Chúa, mà cả thời hôm nay, nơi xứ Úc này hay đâu đó, rất Tây Tàu, như sau:

“Chuyện tôi sinh cháu Hồng Ân, cũng giống như chuyện phép lạ xảy ra ngày lễ Giáng Sinh, Chúa xuống trần. Cũng tựa hồ Đức Nữ Trinh Maria và phụ nữ khác, tôi cưu mang cháu chín tháng mười ngày rất ấn tượng; nhưng tôi ngày sinh cháu còn ấn tượng hơn, là vì nó đã thay đổi đời tôi rất nhiều thứ, cả đến quá trình lý lịch của tôi nữa, cũng đổi thay. Thoạt vào lúc thấy rõ bụng bầu của tôi cứ tăng dần, tôi đã bắt đầu nghĩ đến đứa trẻ, tức con người khác mà tôi sẽ mang đến cho thế trần này. Tôi đã bắt đầu nhìn về người khác, nhất là các phụ nữ cũng mang bầu như tôi, bằng cặp mắt rất khác, tức: bằng ánh nhìn nghiêm túc và phải lẽ, vẫn trông đợi điều tốt đẹp xảy đến với người và với mình. Và từ đó, tôi cũng đã bắt đầu mơ và tưởng đến đứa con gái trong bụng mình, những mong đem lại cho cháu trọn tình thương mà trước đây tôi ít khi nào có, với người khác….” (x. Ann Rennie, A Woman for All Seasons, Australian Catholics, Christmas 2008, tr. 7)

“Tình thương yêu tôi có với người khác”, có lẽ đây chính là đặc điểm làm nên sắc thái của người nữ, trong đời người. Chả thế mà, người nghệ sĩ lại cứ hát về người phụ nữ nào đó đã đi qua trong đời mình, bằng những câu để hát tiếp:

“Trông em đi tha thướt dường nào,

Đôi khi em mỉm cười vườn hoa kia thơm nở.

Lả lướt phất phơi tà áo dáng đi thêm dịu dàng

tựa cành hoa trước gió…”

(Võ Đức Phấn – bđd)

Cành hoa trước gió”, những thoảng hương thơm “dáng đi thêm dịu dàng”, nhất nhất đều là những dáng những điệu mà người xưa gọi là “yểu điệu Thục nữ”, hay cái đẹp rất “yểu điệu”, dịu dàng của người con gái nước Thục chăng nữa, vẫn là điểm đặc trưng của giới nữ, chứ không nên gọi là phái yếu. Yếu sao được, khi có vị nào đó vẫn cứ kể rằng:

“Ở Pháp, có một người đàn ông bị đi tù sáu tháng vì tội đánh vợ. Mãn hạn tù về chưa đầy một tuần lễ, anh ta đã khăn gói đến xin ban quản lý trại giam cho được tiếp tục... cải tạo thêm. Hỏi vì sao không ở nhà mà lại muốn vào tù? Anh ta thú thật, tuy ở tù chẳng sung sướng gì nhưng còn hơn ở nhà, vì ở tù không phải nghe vợ đay nghiến suốt ngày đêm!”

Hoặc sau đó, lại xác chứng bằng những câu, như:

Một cuộc điều tra xã hội học ở Trung Quốc với 1.027 đàn ông ở nhiều vùng dân cư khác nhau với câu hỏi: “Vợ anh có thói xấu gì khó chịu nhất?”, thì đến 82% trả lời, đó là tính nói nhiều. Hóa ra, ai cũng sợ cái tính nói nhiều, nói dai của các bà vợ. Nỗi sợ này có nguồn gốc sâu xa từ thuở nhỏ, các cậu bé đã bị mẹ mắng mỏ nhiều quá. Đàn ông lẩn tránh các “lời khuyên” của vợ cũng giống như khi còn nhỏ họ lẩn tránh lời giáo huấn của mẹ. Thực tế “phái mạnh” rất hay bị “phái yếu” rầy la. Lớn lên một tí thì bị chị mắng. Lớn tí nữa, bị người yêu trách. Lấy vợ, bị vợ chê bai, cằn nhằn. Về già cũng chưa yên. Có cụ ông khi tiễn cụ bà về nơi an nghỉ cuối cùng đã tưởng từ nay chẳng còn ai nói mình nữa. Nào ngờ, cụ lại phàn nàn: “Con gái tôi bây giờ cũng nói nhiều chẳng kém gì mẹ nó!”.

Tại sao đàn ông, cả những người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng lại sợ “võ mồm” của phụ nữ? Đơn giản vì nó không nguy hiểm chết người nhưng làm cho người ta khó chịu đến mức có thể ăn không ngon, ngủ không yên, sức khỏe cả tinh thần lẫn thể chất suy yếu dần, thậm chí sinh bệnh mà... chết.” (xem Cả Ngố, Vợ Có Võ, trang mạng www.dactrung/baiviet)

Thế nghĩa là, phái “yêu sắc” đã trở thành phái “manh nặng” nhờ có thứ vũ khí không mang tính võ biền mà nhiều người cứ gọi là võ, nhưng sự thực chỉ là đặc trưng diễn tả như một thứ khí cụ để tự vệ hoặc bảo vệ người của mình là chồng/là con, là gia đình người thân có hoặc không thương. Phái “yếu nhưng vẫn yêu” là phái đẹp khác thường ở phố chợ, hoặc nhà Đạo như vẫn thấy.

Vẫn thấy và vẫn nhận ra rằng, đời người mà thiếu nữ phụ hoặc phái “yếu nhưng vẫn yêu” là thiếu tất cả. Thiếu cả sự sống, như bản tường trình của phóng viên trên trang mạng có tên MercatorNet hôm 5/3/2013, như sau:

“Có nghiên cứu mới đây cho thấy: đang có chiều hướng trong xã hội ở Mỹ đã và đang trở về với tình hình xảy ra cách đây ba thập niên. Tình hình đó, là: có sự thụt lùi của phụ nữ trong qui chế xã hội ở Mỹ. Cụ thể là: phụ nữ nay bị thiệt thòi nhiều hơn nam giới theo cung cách rất nền tảng. Nghiên cứu cũng chứng tỏ là phụ nữ ở tuổi 75 hoặc dưới đó đang có triệu chứng không còn sống thọ như trước. Tình hình còn là: có đến 12% phụ nữ sống ở Hoa kỳ đang bị tình trạng thiệt thòi như thế đó.

Các nhà nghiên cứu cho thấy là các phụ nữ da trắng bị ảnh hưởng nhiều hơn phụ nữ khác, ở vài nơi. Ngoài ra, vấn đề hút thuốc, phì nộn, cũng khiến cho tuổi thọ của phụ nữ ở Hoa kỳ giảm thiểu khá nhiều. Trong bản tường trình của hãng thông tấn Associated Press có đoạn còn viết rõ: “Nhiều nghiên cứu khảo sát trên toàn nước Mỹ cho thấy: tuổi thọ của phụ nữ đang có chiều hướng đi xuống đặc biệt đối với phụ nữ da trắng chưa tốt nghiệp trung học. Trong khi đó, tuổi thọ xem ra lại gia tăng đối với phụ nữ có học và/hoặc có đị vị quan trọng trong xã hội. Một số nhà nghiên cứu còn cho rằng có chỉ dẫn cho thấy số phụ nữa hút thuốc hoặc béo phì là những người đang có vấn đề về tuổi thọ.” (xem Carolyn Moynihan, MercatorNet 05/3/2013)

Không cần bàn cãi cũng biết: các nhà nghiên cứu ở ngoài mới chỉ tìm hiểu về tuổi thọ của phụ nữ tại một số nước, đã la trời. Thế còn, “lòng đạo” tình hình sống Đạo của nữ phụ ở nhà Đạo nay lên xuống thế nào, đó còn là vấn đề không dễ gì để ta phán quyết.

Nay, chỉ nên coi các vấn đề nêu trên như một cảnh tỉnh về xã hội và Giáo hộ Công giáo mình, ở khắp nơi, để xem tình hình phái “yêu sắc yếu” nay ra sao? Có như phái “manh nặng mạnh” ở mọi thời nữa không. Và, hôm nay, ở nơi này, vấn đề được khơi dậy chỉ theo tính cách gợi ý và mở ngỏ để bà con ta còn kịp đặt thành vấn đề cho nhau, và với nhau mà thôi.

Nhưng trước khi đặt dấu chấm hết cho bài phiếm, tưởng cũng nên mời bạn và mời tôi ta về với Kinh sách có những lời nhắn, rất như sau:

“Chúng tôi phải luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa về anh chị em:

đó là điều phải lẽ, vì lòng tin của anh chị em đang phát triển mạnh,

và nơi anh chị em, lòng yêu thương của mỗi người

đối với người khác cũng gia tăng.

Bởi thế, chúng tôi hãnh diện về anh chị em

trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa,

vì anh chị em kiên nhẫn

và có lòng tin mỗi khi bị bắt bớ hay gặp cảnh gian truân.”

(2 Thes 1: 3-4)

hắn thế rồi, nay ta cứ hiên ngang ngâm nga đôi lời ca để thêm lòng phấn khởi mà nhủ rằng:

“Lòng hoa chan chứa hương xuân thơ ngây trao tình đưa duyên,

Lời hoa tha thiết trao lời cùng bướm cận kề nhụy hoa.

Tình hoa đang nở hương sắc đương duyên đời hoa ngây thơ.

Nhụy hoa đã rữa màu hoa úa say tìm thấy đâu con bướm vàng.

Còn duyên đưa đó khi hoa đương xuân đến chiều rơi hoa…”

(Võ Đức Phấn – bđd)

Cuồi cùng thì, đặc trưng khác biệt của nữ giới với nam nhân, là ở cái “duyên”. Có duyên, kẻ đón người đưa. Vô duyên, đi sớm về trưa một mình!” Vậy thì, hỡi những kẻ vô duyên như bần đạo, ta cứ đi sớm về trưa với bạn Đạo mình, để rồi Chúa mình sẽ khiến mình lại nhiều duyên như các nữ phụ, rất đẹp duyên mọi bề.    

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn tự nhắn mình

và nhắn người

rất như thế.

Trần Ngọc Mười Hai

Suy niệm Chúa Nhật Lễ Chúa Thăng Thiêng - C - “Khi em chết, cõi đời này phải hết,”