• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Được Ngài sai đi, sai đi khắp nơi,

Lòng mang Tin Vui, Tin Vui đến nơi

Cùng các dân trên thế gian đang lầm than…”

(Thành Tâm – Được Sai Đi)

(Lc 24: 49)

“Được Sai Đi Khắp Nơi”, “Mang Tin Vui, Tin Vui Đến Nơi”, có lẽ là chủ-trương “ắt và đủ” của Đạo Chúa, ở mọi thời. Chí ít, là chủ-trương của mọi sỹ-tử Dòng Chúa Cứu Thế khi xưa, hôm nay và mai ngày, còn ghi nhớ.

Ghi tạc và nhung nhớ chủ-trương “sai đi” cũng là quyết tâm cần có rất “ắt và đủ”. Hôm nay, bần đạo bầy tôi đây lại nhớ đến trường-hợp xảy ra với anh em song sinh nhà O’Neill thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Úc Châu, vốn dĩ là đấng bậc chân-phương, hạnh-đạo trong đời bình thường bậc trung, ở đây.

Số là, trong cuộc phỏng vấn “bỏ túi” khá ngắn do Tuần Báo The Catholic Weekly ở Sydney thực-hiện, thì: nhị vị thừa sai mang tên O’Neill ở Úc có nói với Tuần báo Đạo The Catholic Weekly ở Sydney hôm này.

Thế nhưng, trước khi đi vào chi tiết lời lẽ trong buổi phỏng vấn ấy, tưởng cũng nên nghe thêm câu hát của đấng bậc nọ thuộc Tỉnh Dòng Sài gòn từng hát lên như sau:

“Được Ngài sai đi, sai đi khắp nơi,”

Lòng mang Tin Vui, Tin Vui đến nơi

Cùng các dân trên thế gian đang lầm than.

Được Ngài sai đi, sai đi khắp nơi,”

Lòng mang Tin Vui, Tin Vui đến nơi

Để các dân được nhận biết

Chúa đất trời.”

(Thành Tâm – bđd)

Và, tiếp theo đây, mời bạn và tôi, ta đi vào chi tiết cuộc phỏng vân “bỏ túi” cũng khá ngắn nói về nhị vị linh-mục song sinh người Úc rặt ở Sydney hôm trước, qua giòng chảy như sau:

“Là anh em song sinh giống nhau như giọt nước, hai linh mục Patrick và John O’Neill, CSsR đều đã có mặt tại chỗ khi cây cầu Sydney Harbour Bridge được khai-trương vào năm 1932. Thế nhưng, cả hai đều chẳng nhớ gì cái thời-khắc đáng ghi tạc ấy do bởi các vị lúc đó mới được 6 tuần tuổi, thôi.

Tuy thế, anh em giòng họ O’Neill nay đã 86 tuổi tròn cũng ghi nhớ ngày cùng thụ phong linh-mục tại tu viện Dòng ở Ballarat cách nay đến 60 năm, tức vào ngày 16/3/1958.

Dù sự kiện chứng tỏ hai anh em song sinh này cảm thấy mình được ơn gọi làm linh mục ngay vào thời nhỏ tuổi, nhưng chẳng bao giờ bàn luận với nhau về chuyện ấy. Cả hai “chỉ biết” mỗi việc là mình có được ơn gọi làm linh-mục, mỗi thế thôi.

Linh mục Patrick O’Neill nói: “Tại sao tôi lại muốn trở thành linh mục ư? Tôi cũng không biết nữa. Nhưng, có một điều tôi biết rõ lúc ấy, là: làm linh mục, tức có một cuộc sống vui tươi, hạnh-phúc nên tôi chẳng muốn làm gì khác hơn. “

Trong khi đó, linh mục John O’Neill lại cũng bảo: “Khi ấy, lúc nào tôi cũng chỉ muốn trở-thành linh mục. Tôi nhắc lại là: lúc nào cũng thế.

Cùng lớn lên với sáu anh/chị/em còn lại, anh em chúng tôi, Patrick và John đều nói: chúng tôi từng có chung một nền giáo dục tuyệt vời từ các nữ tu Dòng Mercy Sisters trong thời gian còn ngồi ghế ở Tiểu học và vào thời trung học với hội dòng Chirstian Brothers, Úc châu.

Cả hai chúng tôi cùng bước vào Đệ tử viện Cứu Thế ở Galong khi mới 15 tuổi. Về sau, cả hai lại cùng gia-nhập Tu-tập-viện ở Pennant Hills và sau đó là Chủng viện ở Ballarat và Mayfield. Trong những năm ở Tu-tập-viện, ban giám-đốc đã quyết định là trong hai anh em chúng tôi, duy nhất chỉ một người thích-hợp với ơn gọi thôi, thế nên sau đó các ngài đã tìm xem người nào trong chúng tôi có ơn gọi thực-thụ.’

Lm John O’Neill nói: “Chúng tôi giống nhau như hai giọt nước, nên cả hai đều không thể cùng có ơn gọi được; thành ra, các ngài mới nói: phải tách rời mỗi người đi một chỗ để xem ai là người thực sự có ơn gọi. Thế là, tôi được đề bạt lên lới trên còn anh tôi ở lớp dưới.”

Thế nhưng, làm như thế vẫn không ổn. Bởi, rõ ràng là cả hai người trẻ chúng tôi đều có ơn gọi làm linh-mục’. Linh-mục Patrick O’Neill lại cũng nói: ‘Lúc ấy, vẫn không thấy phản-ứng nào từ cấp trên cả, vì thế nên các ngài lại đưa chúng tôi về chốn cũ. Và, chúng tôi kết thúc năm học chung cùng một lớp.

Ít lâu sau ngày thụ-phong, cả hai đều đã ra đi mỗi người một hướng khác nhau. Sau nhiều tháng ngày học chung với nhau tại Rôma, linh mục John O’Neill về lại Úc đứng lớp dạy ở chúng viện, còn linh mục Patrick thì ở lại đó tiếp tục môn thần-học luân-lý chuyên sâu.

Hai anh em song sinh đi vào nề nếp ổn định, cuối cùng cả hai rồi cũng đến ngày phải chia tay đi Venice sau khi xảy ra biến-cố khá ư đau buồn, người này bèn báo-động người kia rằng mình phải ra đi, còn anh ở lại cố ở cho tốt, sẽ có ngày anh em mình lại gặp nhau thôi… Linh mục Patrick vừa cười vừa bảo thế.

Cả thập niên sau đó, linh mục John O’Neill được sai phái làm mục vụ thừa sai tại các giáo xứ loanh quanh nước Úc như phần quan trọng trong cuộc sống ơn gọi làm linh mục Dòng Chúa Cứu Thế. Linh-mục John nhớ rõ mình đã phát-biểu, bảo rằng: “Bà con có thể làm những gì mình muốn cốt sao Danh Thánh Chúa được mọi người biết đến, cũng giống như trường-hợp các thánh Tông-đồ của Chúa, cũng vậy thôi.

Cuối cùng, ngài thấy mình được ơn gọi thừa sai tại châu Phi và phục-vụ qua tư-cách của vị thừa sai mục-vụ ở Burkina Faso suốt 22 năm trời, chỉ về lại quê nhà khi bị tai biến nhẹ vào năm 2007.

Trong khi đó, linh mục Patrick O’Neill phục vụ Giáo hội qua vai-trò thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế cộng thêm công việc dạy học và làm kế-toán cũng như nuôi trồng ở nông-trại ở tiểu chủng viện Galong. Thế nhưng, với 3 năm làm mục-vụ ở Townsville, ông coi đây là những năm tốt đẹp nhất đời mình . Công tác thừa sai /mục vụ đã làm nổi bật ơn gọi của chính mình. Linh-mục cũng từng quả quyết: “Chính đó là mục đích của ơn gọi làm linh mục của chúng ta.”

Khi linh mục John O’Neill bị đột quỵ tại châu Phi, người em song sinh là linh mục Patrick bèn bay đi Rôma gặp gỡ và đưa người em song sinh của mình về lại Úc và khi ấy anh em song sinh lại có dịp đoàn tụ, thêm một lần nữa. Nay thì, cả hai đang chung sống tuổi già tại Dòng nhà ở Kogarah, Sydney, chuẩn bị mừng Lễ Ngọc linh mục vào ngày 16/3/2018, cả hai đều bảo chính bàn tay Chúa đã dẫn dắt hai anh em song sinh, đến từng bước.

Nay, linh mục Patrick O’Neill cứ phân bua diễn giải cho giới trẻ mình biết là các ngài trở-thành sỹ-tử Dòng Chúa Cứu Thế, một trong các dòng tu năng nổ chỉ 6 tháng trước khi gia-nhập cuộc sống của Dòng này, mà thôi. Linh mục nói tiếp:

“Làm sao ta có thể giải-thích được những chuyện như thế nếu không biết rằng ơn gọi là một nhiệm-tích rất bí ẩn. Chính Chúa nhận trách-nhiệm mọi chuyện, nên ta chỉ có việc tuân theo các chỉ-thị của Ngài, mà thôi. Chúa biết mình đang ở đâu, ta không cần phải lên kế-hoạch này nọ. Cứ việc chờ Ngài cho biết Ngài cần đến ta, muốn ta làm những việc Ngài cần, mỗi thế thôi. Điều tuyệt vời là: từ lầu cao, luôn có ai đó chuyên lo những chuyện này, thôi. Phải thế không, các bạn?” (X. Catherine Sheehan, Brothers ‘just knew’ vocation, The Catholic Weekly 18/3/2018 tr. 7)

Chuyện kể lể ở trên đưa dẫn người đọc vào một tình-huống có những ao-ước bảo rằng: Giáo hội ta đang cần nhiều mục-tử có đầu óc và lập trường sống khá thông thoáng và cởi mở, chứ không gò bó hoặc chú tâm đến luật-lệ mà thôi.

Lập trường sống thông thoáng, cởi mở lại được tô đậm bằng câu truyện dân gian kể về “Ông già Việt kiều” trở về Sài gòn đứng trước nhà sách Khai Trí ở đường Lê Lợi, với những ý/lời giản-đơn, thân thương nhưng không hệ-quả giúp ta nắm bắt, hiểu được sự việc qua giòng chảy ở bên dưới:

“Sự việc kể về một nhân-vật nổi danh từng tạo tri-thức cho nhiều người ở Sài gòn thời đó qua giòng chảy ngăn ngắn những kể rằng:

Thời chúng tôi còn học Trung học, tức dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, sách tiếng Việt ít nên muốn thi đậu bắt buộc phải dùng sách tiếng Pháp, như Toán hình học, Toán đại số, Toán vật lý… Học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mà làm hết cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs gồm 1.144 bài thì nhất, đi thi trung học chắc ăn như bắp.

Thời ấy các tiệm sách lớn như Khai Trí chẳng hạn không có nhân viên bảo vệ mặc đồng phục ngồi gác ở cửa như bây giờ, mà có các nhân viên giả làm khách hàng, trông nom, ngăn chặn những người muốn ăn cắp sách. 

Buổi sáng hôm ấy, một cậu học sinh cứ lang thang mở coi hết cuốn sách này đến cuốn khác ở chỗ các giá sách bằng tiếng Pháp.. Việc lắm lét nhìn tới nhìn lui của cậu bé khiến nhân viên trông coi khu sách tiếng Pháp nghi ngờ. Lúc cậu đi ra, họ giữ lại, sờ ngực áo cậu và lôi ra một cuốn Toán Hình học và Đại số của Réunion de Professeurs quý giá đã nói ở trên.

-Tại sao cậu ăn cắp sách?

Cậu bé tái mặt không nói nên lời. Chiếc phù hiệu trên ngực áo cậu cho biết cậu học trường Pétrus Ký, một trong bốn trường trung học công lập lớn nhất, rất nổi tiếng tại Sài Gòn lúc bấy giờ: Gia Long, Trưng Vương, Pétrus Ký, Chu Văn An.

-Hừ, học sinh trường Pétrus Ký mà ăn cắp sách! Tôi gọi cảnh sát đến bắt để cậu chừa cái thói đó đi! 

Họ lôi cậu bé tới chỗ quầy thâu tiền của cô thâu ngân viên, nhờ cô giữ cậu giùm rồi đi gọi cảnh sát. Cậu bé sợ hãi khóc như mưa như gió:

-Lạy chị, nhà em nghèo không có tiền mua sách, chị nói với chú ấy tha cho em đừng gọi cảnh sát…

Cậu bé khóc quá khiến cô thâu ngân viên cũng thấy mủi lòng:

-Ba má em làm gì mà nghèo?

-Ba em chết, má em quét chợ An Đông…

-Mẹ quét chợ An Đông mà con học Pétrus Ký sao? Em học đến lớp mấy rồi?

-Dạ thưa quatrième année. Chị tha cho em, nếu cảnh sát bắt, đưa giấy về trường em bị đuổi học tội nghiệp má em…

-Các em quen tiếng Pháp lắm phải không?

-Dạ!

-Bởi vậy nên mới lấy trộm sách Pháp phải không? Bằng bấy nhiêu mà đã học lớp Đệ tứ, sắp thi Trung học là giỏi lắm. Nhưng chú ấy đã đi gọi cảnh sát thì biết làm sao…

Cậu bé sợ quá lại khóc…

Từ đầu đến giờ có một ông đã lớn tuổi, ăn mặc lịch sự vẫn đứng theo dõi câu chuyện. Thấy cô thâu ngân nói thế, ông bảo cô ta:

-Thôi được, cuốn sách giá bao nhiêu để tôi trả tiền. Học trò nghèo mà, lấy một cuốn sách, lỡ bị đuổi học tội nghiệp…

Cô thâu ngân viên chưa biết giải quyết thế nào thì đúng lúc đó ông Nguyễn Hùng Trương, chủ nhà sách mà mọi người vẫn gọi là ông Khai Trí, từ ngoài đi vào. Thấy chuyện lạ, ông dừng lại hỏi chuyện gì. Cô thâu ngân viên thuật lại sự việc và ông khách cũng đề nghị trả tiền như ông đã nói với cô thâu ngân. Ông Khai Trí cầm cuốn sách lên coi sơ qua rồi nói:

-Phải học trò giỏi mới dùng tới cuốn sách này, chứ kém không dùng tới. Cám ơn lòng tốt của ông nhưng để tôi tặng cậu ta, không lấy tiền và sẽ còn giúp cậu ta thêm nữa… 

Ông trao cuốn sách cho cậu bé, thân mật vỗ vai khuyên cậu cố gắng học hành rồi móc bóp lấy tấm danh thiếp, viết vài chữ, ký tên và đưa cho cậu:

-Từ nay, hễ cần sách gì, cháu cứ đem danh thiếp này đến đưa cho ông quản lý hay cô thâu ngân, cô ấy sẽ lấy cho cháu. Ngày trước bác cũng là học sinh trường Pétrus Ký mà… 

Ông bắt tay, cám ơn ông khách lần nữa rồi đi vào trong. Ba năm sau, nghe nói cậu bé đậu xong Tú tài phần II, được học bổng du học nước ngoài, hình như sang Canada.

Thời gian qua đi. Một năm sau biến cố lịch sử 1975, nhà sách Khai Trí bị tịch thu, mới đầu người ta đặt tên là nhà sách “Ngoại văn”, sau đó đổi thành nhà sách “Fahasa” (viết tắt của 3 chữ “Phát hành sách”), hiện nay lại đổi lần nữa thành nhà sách “Sài-Gòn”.

Ông Khai Trí bị đi cải tạo vì tội “biệt kích văn nghệ”. Sau khi được thả, ông sang định cư bên Hoa Kỳ. 10 năm sau, ông ở Mỹ về Việt Nam một lần nữa, mang theo hy vọng làm được một chút gì cho đất nước. Ông đã mang về 2.000 đầu sách để tiếp tục làm văn hoá.

Sách bị tịch thâu với lý do: in trước 75. Phần lớn sách bị tịch thâu là các loại sách Học Làm Người. …Ông đau lòng vì sách, ôm đơn đi kiện. Kết cục chẳng đi đến đâu. Ông buồn bã nói:

-Chắc “năm 3.000 thì họ trả…” 

Ông mất năm 2005 tại Sài Gòn. Một buổi chiều, người ta thấy một “ông già” khoảng ngoài 70 tuổi, ăn mặc theo lối Việt kiều, đứng ngắm trước cửa nhà sách Sài Gòn với nét mặt buồn buồn, rồi bước vào hỏi thăm các cô bán sách về ông Khai Trí, các cô nói hình như ông đã mất cách đây đến hàng chục năm. “Ông già Việt kiều” lại ra đứng ngắm trước cửa tiệm sách hồi lâu, lấy khăn giấy lau nước mắt, chắp tay hướng lên trên trời khẽ vái ba vái rồi đi. Không ai biết ông ta là ai cả…” (Trích câu truyện kể về Ông Khai Trí và cậu học trò Trộm Sách” khi xưa)

Nhận định thế rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta quay về vườn hoa thượng uyển có lời vàng của bậc thánh hiền nhắn nhủ như sau:

“Phần Thầy,

Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa.

Còn anh em, hãy ở lại trong thành,

cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống." (Lc 24: 49)

Thực-hiện những gì được Đấng Bề Trên ưu ái trao ban theo cung-cách “ắt và đủ”, trên thực-tế, là chuyện đã đành với mỗi người và mọi người. Thế nhưng, cùng nhau thực hiện điều ấy qua cung-cách của nhân-vật nào đó như cặp linh-mục song sinh ở Úc hôm rồi, mới là chuyện lạ. Và chuyện lạ đây, nay trở-thành hiện thực cũng rất lạ.

Vâng. Chính thế, đấy bạn ạ. Ta không gọi đó là ơn tiền-định hoặc phần số chút nào hết. Thế nhưng, trong cuộc đời thường của ta và của người, luôn có cái gì đó không do ta mà ra. Nhưng, xuất từ nơi nào đó, của ai đó không-là-ta và cũng chẳng là ai khác, ở đời. Đó, là vấn-đề của tôi, của bạn. Trong đời thường. Của mọi người.                  

Trần Ngọc Mười Hai

Biết nói sao cho vừa những chuyện

đại loại khó diễn tả như trên.

 Trần Ngọc Mười Hai