• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Người tu sĩ sống hiệp thông với Thiên Chúa

Người tu sĩ sống hiệp thông với Thiên Chúa

Chuyện kể rằng: Có mấy em bé nọ rất muốn làm thiên thần. Thượng Đế cho các em mỗi đứa một cái chân đèn, và bảo chúng giữ cái chân đèn cho thật bóng sáng. Nhưng trong một vài ngày mà Thượng Đế không đến, hầu hết các em bé không làm theo lời Thượng Đế, không chùi bóng chân đèn nữa. Một hôm, Thượng Đế đột nhiên đến thăm, chân đèn của mỗi đứa đều đóng một lớp bụi dày. Duy chỉ có một em bé mà thường ngày mọi người gọi là “thằng ngốc”, cho dù Thượng Đế không đến, hằng ngày nó vẫn cứ lau chùi chân đèn sáng bóng. Kết quả là em bé ngốc này được trở thành thiên thần.

Câu chuyện trên đây là một đề tài suy tư rất quý báu về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người, nhất là những người sống đời thánh hiến, những người được Chúa chọn gọi cách đặc biệt để sống hiệp thông với Người.

“Làm thiên thần”, đó là khát vọng của mọi kitô hữu muốn vươn lên trong cuộc sống hoàn thiện. Cái triết lý Á Đông “Nhân chi sơ tính bổn thiện” là hoàn toàn đúng. Ai trong chúng ta mà lại chẳng được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh Chúa hay không muốn mình trở thành một người tốt bao giờ!

Thiên Chúa đã trao ban cho những người muốn được nên hoàn thiện (không phân biệt giai cấp, khả năng hay phẩm chất) một “cái chân đèn” và bảo “phải giữ cho thật bóng sáng.” “Cái chân đèn” đó chính là ơn gọi sống đời thánh hiến, ơn gọi trở thành chứng nhân cho Chúa Giêsu bằng cuộc sống khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục - hình ảnh sự “bóng sáng” của “chân đèn” ơn gọi.

Điều kỳ diệu ở đây là “thằng ngốc” đã trở nên người duy nhất biết “làm theo” lời Thượng đế. Em không những chỉ gìn giữ mà còn “hàng ngày lau chùi” cho chân đèn được “sáng bóng”. Chính nhờ lòng tin tưởng triệt để vào Đấng mà em tin rằng có thể làm cho em trở nên thiên thần, cùng với niềm hy vọng, nên em đã trung thành làm theo lời Người, không mảy may ngờ vực. Lòng tin, hy vọng và sự vâng phục đó đã khiến em trở thành kẻ ngu ngốc trước mắt người đời, nhưng đối với Đấng có quyền ban thưởng, thì em là người khôn ngoan nhất. Và kết quả là một món quà xứng đáng dành cho em: được “trở nên thiên thần”, được ở gần bên Thiên Chúa để phụng thờ Người và sống thân mật với Người..

Như em bé trong câu chuyện trên, người tu sĩ cũng là những người “ngốc” đối với thế gian, vì đã tin và vâng theo lời mời gọi của Thiên Chúa. Trên bước đường theo Chúa, họ dám can đảm “lội ngược dòng”, và bị cho là ngu dại đối với thế gian: từ bỏ những ước vọng riêng tư, sự tự do cá nhân và tình yêu lứa đôi để chỉ sống cho Chúa bằng ba lời khấn. Chính trong niềm tin, sự trông cậy và lòng mến Chúa mà họ không quản ngại thực hiện những điều Chúa muốn và nhờ đó, họ được kết hợp mật thiết với Người.

Em bé đã dùng chất liệu để đánh bóng chân đèn. Người tu sĩ trong khi thi hành sứ mạng chứng tá của mình, cũng dùng những chất liệu cần thiết để làm sáng bóng “chân đèn” ơn gọi bằng Lời Chúa, các việc phụng tự, các Bí tích, và đặc biệt nhất là Thánh Thể, nguồn sống đích thực và kho tàng của sự hiệp nhất với Thiên Chúa. Trong mọi sinh hoạt của đời sống thường ngày, người tu sĩ lấy Lời Chúa làm kim chỉ nam để củng cố đời sống tin, cậy, mến; và lấy Thánh Thể Chúa làm thần lương để duy trì sự sống và mối hiệp thông với Chúa.

Người tu sĩ chỉ có thể được hạnh phúc khi biết luôn trung thành với việc “đánh bóng” ơn gọi của mình mỗi ngày. Nhờ đó, với ơn Chúa trong sự hiệp thông với Người, mối hiệp thông với anh chị em đồng loại ngày càng được phát triển. Bởi vì “Ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4, 21).

P. V