• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

PHAOLÔ và các thư...

Thư Êphêsô     

Về thư này, xem ra nhiều người vẫn cho rằng: thánh Phaolô không phải là tác giả, dù thánh-nhân đã sống rất nhiều ngày ở nơi đây. Đúng ra, thư Êphêsô đây mang tính cách của một thư luân lưu/mục vụ về qui cách. Thư Êphêsô rút tỉa được khá nhiều điều lấy từ thư Côlôsê. Đọc thư, ta không thấy dấu có ám chỉ nào về sự Công chính như thánh Phaolô từng đề cập, nhưng lại nói nhiều hơn về cứu chuộc và sự thứ tha mọi lỗi tội, tức ngôn từ mà thánh Phaolô đặc biệt không sử dụng. Ơn cứu chuộc đã thành toàn và bao gộp hết mọi người. Hội thánh, vốn là thân mình Chúa gồm những người từng nhận được ơn lành cứu chuộc ấy. Và, Hội thánh được thiết lập không ở trên Đức Kitô nhưng trên các tông đồ và ngôn sứ. Ơn cứu chuộc, là xuất từ quyền uy sức mạnh lạ lùng ở bầu trời và nơi khí quyển. Và, ơn cứu chuộc đã như thể vượt quá khỏi tầm tay do con người họ kiểm soát. Người được ơn này vẫn thuộc về Đức Kitô Đấng từ trời đến, nhưng lại không sử dụng chủ đề bè rối như phần chính yếu của Thiên Chúa xuống với gian trần.

Phần đông các nhà phê bình đều xem xét thật kỹ thư Êphêsô trước khi xem ai là tác giả thực thụ của thư này. Các đặc trưng ở trong thư, gồm có:

         Văn bản xưa cũ nhất không đề tên người nhận;

        Cụm từ “bí nhiệm” được sử dụng thường xuyên hơn các thư đích thực do chính thánh Phaolô đọc cho viết lại có ý nghĩa khác hẳn. Ở thư Êphêsô, cụm từ “bí nhiệm” lại có nghĩa là kết hợp mọi người và mọi sự vào với Đức Kitô;

        Điểm nhấn ở thư Êphêsô là về Phục Sinh, nhưng lại ít nói về thập giá;

        Tác giả thư, có cái nhìn tự mãn nguyện về vai trò tông đồ mục vụ của mình, còn thánh Phaolô lại chả bao giờ muốn làm như thế;

        Trong thư, không thấy chỗ nào nói về giai đoạn khó khăn mà thánh Phaolô gặp;

        Israel là chuyện đã qua trong quá khứ và lề luật nay bị Đức Kitô loại trừ;

        Hội thánh toàn cầu vẫn chỉ là một và không mang ý nghĩa một giáo hội sở tại;

        Cung cách phụng vụ ở thư có vẻ hơi khoa trương –nhịp điệu thì như thể đang tiến dần về phía thung lũng lấn chiếm từng gang tấc;

        Thánh Phaolô quan niệm hôn nhân như hành động để xoa dịu kẻ yếu hèn, trong khi tác giả đây lại tôn vinh nó như tương quan mật thiết giữa Đức Kitô và Hội thánh;

        Đức Kitô được coi như viễn tượng về vũ trụ, bởi Ngài ngự trị chốn Thiên đường;

        Thư đây có nhiều câu lấy từ thư Côlôsê, theo kiểu lù mù bạ đâu lấy đó.

Vậy thì, ai mới thực là tác giả thư Êphêsô?

Theo Holtmann, tác giả thư Côlôsê và Êphêsô vẫn chỉ là một.

Còn Goodspeed lại cho rằng: thư Êphêsô là lời nói đầu viết cho tuyển tập gồm các thư được  thánh Phaolô gửi đi các nơi.

Goguel lại nghĩ: thư Êphêsô là phần diễn giải các thư thực sự do thánh Phaolô viết;

Boismard vẫn cho rằng: thư Êphêsô do thánh Phaolô viết từ Rôma, sau đó được một vị nào đó quen thuộc với thư Colôsê phát tán rộng thêm ra. Tác giả Boismard lại vẫn bảo: thư Colôsê là phần diễn đạt nhằm gửi cho các đồng đạo sống ở Laođixê như có nói trong thư Côlôsê đoạn 5 câu 16.

Muddiman có nói: thư Êphêsô lúc đầu là do thánh Phaolô viết nhưng không phải ở Êphêsô, như một thư mục vụ gửi giáo đoàn theo truyền thống Phaolô như đã được phổ biến rộng rãi.

Tác giả Wansborough lại vẫn suy rằng: các vị trong cộng đoàn Phaolô đã sử dụng giáo huấn nói trong thư như khuôn vàng thước ngọc, hầu mừng kính thiết lập cộng đoàn. Tác giả chuyển đạt lối diễn giải truyền thống Phaolô theo phương án giáo huấn người đọc. Tác giả đây trở thành loại hình của một Phaolô vào thời Hậu-Phaolô, thế cũng nên.

Chúc lành thư Êphêsô 

Lời lẽ trong thư Êphêsô ở đoạn 1 câu 3-14 và các đoạn sau xem như lời cầu mà tác giả James Dunn gọi đó là “Kitô-luận làm nổ tung đầu óc người đọc.”

Chúc lành trải rộng cả vào lúc trước khi thế giới được tạo dựng, kéo dài mãi mãi động thái của nó. Lời cầu, thấy ở thư Êphêsô mô tả Đức Giêsu trụ trì chốn thiên đường. Điểm nhấn của thư đặt nơi quyền uy lướt vượt mọi sự để tôn Ngài lên trên đó.

Trọn vẹn

Theo từ vựng, điều này mang ý nghĩa của khoang chứa trên tầu, hoặc chỉ về dân số sống tại thị trấn nào đó, hoặc nêu rõ nội dung trong sách hoặc trong thư. Thư Galata sử dụng lời này vào nhiều lúc. Còn với thư Côlôsê và Êphêsô, thì ý tưởng đề ra là Thiên Chúa đã lấp đầy trái đất cách trọn vẹn, có Đức Khôn ngoan hiện diện ở khắp chốn.

Triết lý của nhóm Khắc Kỷ, cho thấy nguyên lý thần linh thánh ái ngập tràn vào tất cả và tất cả được lấp cho đầy. Thư Côlôsê mang ý nghĩa khá thụ động ở chỗ: Thiên Chúa muốn mọi sự tràn đầy vẫn thấy có nơi Người. Thư Êphêsô, có nghĩa chủ động hơn, khi bảo rằng: Đức Kitô chủ động trong tâm can ta và nhờ đó ta được lấp đầy bằng sự trọn vẹn của Thiên Chúa, bằng LỜi. Từ đó, tất cả chúng ta sẽ nên toàn hảo, có sự tràn đầy trọn vẹn của Đức Kitô.

Ơn cứu thuộc ở thư do thánh Phaolô viết, chỉ xảy đến vào lai thời; nhưng thư này, ơn Chúa đã thắng vượt cả thời gian. Thư Rôma do thánh Phaolô đích thân đọc cho thư ký viết, thì người ngoại giáo được ghép vào cây ô-liu của Israel. Còn thư này, việc tháp ghép sẽ xảy ra trong tương lai, mai ngày thôi. Hình ảnh chính được thánh-nhân sử dụng là bức tường thành. Tường chống đối/đố kỵ đã vỡ đổ…

Tư-duy Do thái và Hy Lạp  

Thật dễ thấy trong thư Côlôsê và Êphêsô, người đọc có được chủ đề gần gũi với tư-duy Hy Lạp. Có người bảo: chủ đề đây, cũng xa vời tư tưởng Do thái. Theo tôi, thì chủ đề trong cả hai thư được nối kết với Đức Khôn ngoan và LỜI. Chủ đề, tác giả muốn nói, là: đặc trưng của triết thuyết Platô, khá trung hoà.

Tôi xin được gợi ý ở đây, là: nếu quả như thế, thì tác giả hẳn cũng nói đến thần học về Đức Khôn ngoan và LỜI xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ nhất, sau Công nguyên. Và chủ đề này cứ ẩn hiện dưới lớp mặt của bản văn. Có vị, như D. Boyarin lại cho rằng: Lời nói đầu của thánh Gioan mang tính gợi nhớ như thế. Có lẽ ta cũng nên nghiên cứu xem lời nói đầu này có phù hợp với ý trong thư Côlôsê và Êphêsô không. (Xem Daniel Boyarin, The Gospel of Memra: Jewish Binitarianism and the Prologue to John, Harvard Theological Review, 2001, 243-284)

Thông thường ta lại vẫn nghĩ rằng Đạo Chúa và Do-thái-giáo tách rời nhau rất sớm; và nền thần học về Đức Khôn ngoan và LỜI trong Đạo Chúa không nói gì nhiều về Do-thái-giáo ở Palestin. Một số sử gia nay bác bỏ lối biện luận này.

Thần học về Đức Khôn ngoan và LỜI nhập chung làm một với thế giới của người Do thái ở thế kỷ đầu. Đây là lẽ thường tình theo lối tư-duy Do thái. Bởi, ít nhất cũng có một hoặc nhiều nhóm/phái Do-thái-giáo có trước khi Đạo Chúa được lập ra; thế nên, chẳng lạ gì khi thấy các vị đều chủ trương sử dụng cụm từ Thiên Chúa (theos) khi đề cấp đến Đức Khôn ngoan và LỜI.

Với truyền thống ngoài Đạo thời đó, các vị đã bắt đầu suy tưởng về Thiên Chúa lưỡng-vị nếu không muốn nói Ba Ngôi thì ta chỉ nói Thiên Chúa Ngôi thứ hai vô hình vô dạng có danh xưng là LỜI, là Memra; là, Đức Khôn Ngoan, Con Chúa.

Mãi về sau, Do-thái-giáo của các thày tư tế mới có phản ứng đối chọi lại chủ thuyết Hy Lạp.

                                                            ------------------------

Các chủ đề trong văn chương Do thái       

Thần học Do thái và Hy Lạp nói về Đức Khôn ngoan và LỜI thấy rõ trong tiếng Hy Lạp Philo Judaios. Theo thuyết này, Đức Khôn ngoan/LỜI được nối kết với Sự Sáng. Đức Khôn ngoan/LỜI, là Thiên Chúa nên có Chúa ở đó.

Bằng chứng thấy được ở các văn bản dịch từ tiếng Aram của các dịch giả hấu hết là tư tế, thì Đức Chúa có danh xưng: Memra/Shekinah/Kabod đích thực là Thiên Chúa, Đấng Bản Vị.

LỜI trong Tin Mừng thánh Gioan     

Dẫn nhập Tin Mừng, thánh Gioan giảng giải và diễn nghĩa, chứ không chủ ý ca tụng, thờ lạy. LỜI, là những điều được kể về thời khởi thủy của nhân loại ở sách Sáng Thế. Là, diễn giải kể truyện chứ không là bài vịnh ở phụng vụ. Là, bài chia sẻ ở hội đường tựa như lời nói đầu thôi. Là, văn chương tư tế chứ không là vịnh ca, khúc hát rất thăng trầm. Không là bài thơ, nhưng là truyện kể “có đầu có đuôi” theo thứ tự thời gian xảy đến. Đó cũng là bài giảng dựa vào kinh sách rút từ Ngũ thư có trích thơ văn từ các sách tiên tri và lề luật, đặc biệt là Văn Chương ở sách Cách ngôn.

Văn bản về Sáng Thế là sách Khởi nguyên Chương 1 câu 1-5. Còn, văn bản về Đức Khôn ngoan là đoạn sách Cách ngôn chương 8 câu 22-31. Vịnh ca Khôn ngoan không là khuôn mẫu qua đó thánh Gioan dùng để viết Tin Mừng nối kết với văn chương tư tế. Ở văn bản này, người viết đã sử dụng thoải mái các nhân vật, từ ngữ và chất lượng của thần linh khác. Điều này bao gồm nhận thức về Đức Khôn ngoan được nhân-cách-hoá như LỜI ở phần dẫn nhập Tin Mừng thánh Gioan. Đây là những gì xảy đến cả vào lúc có trước thời Đạo Chúa ra đời, và rút từ thế giới tư tưởng bình thường của Do-thái, tức thần học về LỜi như hiện trạng.

“Từ khởi thủy Thiên Chúa đã dựng nên trời và đất, và đất thời trống không mông quạnh”. “Và rồi Thiên Chúa ở bên con người.” “Ở với Thiên Chúa là Đức Khôn ngoan.” “Và sau đó, Đức Khôn ngoan xuất hiện ở dướt đất và sống với con người.”

Tin Mừng thánh Gioan, dẫn con người biết sử dụng tất cả các thứ này. Chính thần thoại về sự bất mãn của Đức Khôn ngoan trong đó, nên ý định của Thiên Chúa quyết tìm chốn cơ ngơi cho Đức Khôn ngoan ở trái đất. Và, để chữa cho khó khăn này là việc Nhập thể. Tính độc đáo nơi Tin Mừng thánh Gioan tuyệt nhiên không nằm ở nền thần học về LỜI nhưng là Kitô-luận về nhập thể: thánh Gioan không chế ra LỜI, nhưng thánh-nhân diễn tả cách độc đáo về LỜI đã mặc xác phàm.

“Đức Khôn ngoan không tìm ra nơi nào để cư ngụ; nhưng chỉ một chỗ dành cho Đức Khôn ngoan là thiên quốc. Sau đó, Đức Khôn ngoan ra ngoài ở với con cái loài người, nhưng vẫn không tìm ra được chỗ nào. Thành thử, Đức Khôn ngoan trở về lại nơi cũ, sống với thiên thần.” (1 Enoch 42: 1-2)          

Đức Khôn ngoan từng đến với thế gian trước cả Đức Giêsu Kitô, nhưng không được đón nhận dù là Sự Sáng. Israel từ đó mới đưa Đức Khôn ngoan về lại Thiên đường, sống với thiên thần. Và lúc đó, một số người mới nhận Đức Khôn ngoan. Một số người Do thái lại cũng đón nhận LỜI. Người đó trước nhất là Abraham. Và những người như thế đã trở thành con Thiên Chúa, qua LỜI.

Ở đây, đã thấy rõ sự khởi đầu lời rao giảng đặc biệt nơi Đạo: thánh Gioan nói: chính Đức Khôn ngoan/LỜI đã trở về từ thiên quốc và nhập thể vào với Đức Giêsu và nhờ đó trở thành ánh sáng và là thày dạy tốt nhất về tuổi thơ ấu của Đấng nhập thể vào với con người…

Toàn bộ bài giảng giải ở lời tựa Tin Mừng thánh Gioan đã trở thành cây cầu bắc ngang nối liền khoảng cách giữa thời mà LỜI chưa hiện hữu và lúc LỜI nhập thể và từ đó cắt nghĩa được thời gian tạo động lực cho nhập thể.

Đức Giêsu hoàn thành sứ vụ Môsê nhận được và Ngài không đổi dời sứ vụ ấy. Thế nên, chỉ cần giải thích Luật Torah cho tốt, và LỜI nhập thể là Thày dạy thích hợp nhất cho việc mặc xác phàm. Dạy bằng LỜI vẫn trong sáng, xác thực hơn văn viết (Derrida). Thiên Chúa đã thử bằng văn bản, nhưng sau đó Ngài gửi LỜI nhập vào xác thể của Đức Giêsu.

LỜI nhập xác phàm là Thày dạy tốt và là nhà chú giải tốt nhất nên Ngài mới nhập thể.

Thế nên, sự khác biệt đích thực giữa người Do thái đi Đạo và ngoài Đạo không mang tính thần học. Khác biệt thực thụ giữa hai bên là sự kết hợp giữa thần-học và thần-thoại-học Do thái lúc trước, và Đức Giêsu thành Nadarét là người Do thái rất đặc biệt.

Tin Mừng thánh Gioan đoạn 18:

Tư tế Eliezer là con trai của Tư tế Yose người Galilê có nói: Chín trăm bảy mươi bốn thế hệ đã xảy đến trước khi thế gian được tạo dựng, Luật Torah cũng được viết ra và đặt dưới gót chân của Đấng Chúc Phúc và người con đã cùng với thiên thần hát mừng rằng:

                        “Ta ở bên Người như đứa trẻ được quý mến,

                        và ngày ngày ta là nguồn vui sướng của Người,

                        chơi giỡn trước mặt Người mọi thời.”

                        (Cách ngôn 8; 30)

 Ở đoạn khác, tư tế lại cũng viết:

                        “Ta đã cưu mang hết những người này

                        Và ta đã cho chúng được sinh ra  

                        và rồi các ngươi lại sẽ bảo:

                        Hãy mang Người trong bụng 

                        như bà mụ đỡ mang đứa trẻ”

Bởi lẽ, các tư tế và trẻ thân yêu ấy được Cha mang Con của Thiên Chúa, tức Luật Torah ở trong bụng. Văn chương tư tế vào thời trước khi có Tin Mừng thánh Gioan, Người là LỜI. Là Con Chúa, rất rõ ràng.

                                                            ---------------------

Khác biệt giữa LỜI và thuyết ngộ đạo

Nhiều lối mòn đi vào Đạo Chúa, thời ban đầu. Nơi họ, có người bị gọi là Bè ngộ đạo, tức những người sùng đạo được dưỡng nuôi vào cùng thời. Cụm từ “ngộ đạo” theo nghĩa từ vựng lại là “tự biết mình”. Bởi, bè nhóm này tự cho mình biết rõ về chính mình. Rồi, họ còn nghĩ: hồn người có linh có gốc từ trời cao, do Đấng Quyền Uy Thánh Ái sơ xuất bước hụt lầm lỡ nên ra thế. Theo nhóm bè này, thì: ở nơi mình, linh hồn bị nhốt hãm vào thân xác chất thể. Vì thế nên, ta quên mất đường đất gốc nguồn rất thánh thiêng của chính mình. Đấng Cứu Chuộc -mà nhóm bè này quan niệm là Đấng được Đạo Chúa gọi là Đức Giêsu- đã kêu gọi con người hãy thức tỉnh, đừng ngủ mê.

Từ đó, vấn đề đặt ra cho ta, là: trước kia, ta là người thế nào? Từng bị thúc thủ, dồn ép vào những đâu? Sao vội vã đi về đâu thế? Ta được cứu vớt khỏi nơi nào? Sản sinh có nghĩa gì? Tái sinh là gì thế? Nghĩ thế rồi, bè nhóm Ngộ đạo bèn triển khai sử liệu của chính con người, như tia sáng chớp soi bóng tối. Họ đưa ra nhiều huyền thoại kể lể bằng ảnh hình rất uy lực. Nhưng, trong giòng chảy nhận thức về đạo như thế lại có nhiều giòng nước vẫn song hành. Nói chung, thì bè Ngộ đạo lại đã cách ly Thiên Chúa Đấng Tạo dựng ở Kinh sách của người Do thái khỏi Đức Chúa cứu chuộc mà họ đạt được nhận thức và đã định danh Ngài vào với Đức Giêsu. Nhóm bè này không nhấn mạnh  -và một số vị trong đám người này lại cũng chẳng chấp nhận được-  đến cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Họ cũng chẳng bận tâm quan niệm rằng Đức Chúa Cứu Chuộc thực sự đã chết. Họ cứ nghĩ Ngài là Đấng linh thiêng vẫn dẫn dắt họ có nhiều nhận thức, ngày càng nhiều hơn nữa.        

Thánh Phaolô lịch sử tuyệt nhiên không thuộc nhóm ngộ đạo nào cả. Thánh-nhân có lẽ cũng không tư-duy về Đức Giêsu Phục sinh ngoại trừ Ngài là Đức Chúa chịu-nạn-chịu-chết-trên-thập-giá đã trỗi dậy từ nơi đó. Thánh nhân vẫn cứ neo chặt vào với thực tại của con người, thực tại của nỗi chết, cả đến thực tại của thứ chính trị bẩn nhơ, và thực tại khủng khiếp gắn liền với thực tại của hành xử đóng đinh Ngài vào thập giá. Thánh-nhân, cuối cùng cũng đạt đến ý niệm để hiểu rằng tình thân thương, yêu mến chính là tên gọi của trò chơi; và không bè nhóm ngộ đạo nào lại trụ vững nơi cung cách của tình thương mến vẫn có giữa Thiên Chúa của Đức Giêsu và con người của ta. Thánh nhân chẳng bao giờ công khai nhân nhượng hiệp thương với bè nhóm Ngộ đạo nào như thế; nhưng, thánh-nhân vẫn luôn giảng rao thực trạng về tình thương mến ấy trước muôn muôn người ở Athens, nhưng quan điểm lập trường của ông đã bắt rễ thật kiên cố trong các nhận định khác nhau.

Thật tình thì, thư Côlôsê và Êphêsô không thể là nhận định thần học mang tính Ngộ đạo nào hết. Cả đến lời tựa của Tin Mừng do thánh Gioan viết cũng không là ý tưởng ngộ đạo nào cả. Tất cả chỉ là giòng chảy thần học trầm mình trong Đức Khôn ngoan rất Do thái cả ở Do-thái-giáo lẫn Đạo Chúa.

                                                            -------------------------------

Ngụy thư Phaolô          

Xem ra, phần lớn ở Êphêsô, đã thấy xuất hiện một loại hình gọi được “trường phái Phaolô” gồm những vị đưa ra các bài viết hoặc thừ từ lấy tên vị sáng lập nhóm này.

Nhiều tác giả cũng đã dàn dựng một số vụ việc liên quan đến tác quyền thực thụ mang danh Phaolô ở các thư được viết tiếp theo sau thời buổi đó, ngoại trừ thư gửi giáo đoàn Do thái đồng loạt được coi như không phải là thư thánh Phaolô đích thân đọc cho thư ký mình viết. Bức thư mang danh là “thư gửi cộng đoàn Do thái” được cho rằng không trực tiếp xuất từ thánh Phaolô hoặc trường phái của thánh-nhân. Thực sự đó không là thư viết và có viết cũng không để gửi cho người Do thái nào hết! Tuy nhiên, có sự nhất loạt đồng ý bảo rằng chỉ mỗi 7 thư nói ở trên mới thực sự và không còn nghi ngại gì nữa, là do chính thánh Phaolô chủ xướng.     

Thư thứ hai Thessalônika

Nhiều ý kiến cho rằng thư này là do chính thánh Phaolô, Silas và đồ đệ của thánh-nhân là Timothê gửi đi, tức cùng một người gửi như trước đầu. Nhưng, địa chỉ người nhận có thể là giả tưởng. Bởi, mục đích của thư thứ hai này, trái nghịch hẳn thư thứ nhất, tức chỉ nói về những ngày sau hết, của con người. Tư tưởng nền tảng trong thư này lại đối nghịch với quan niệm về thời Quang Lâm Chúa Đến Lại đã rõ ràng. Điều này xảy đến là do có nhiều dấu chỉ được nghĩ là sẽ đi kèm với thời này, vẫn chưa thấy. Có vị nghĩ là thời ấy được dời lại, mãi về sau. Kết cuộc thì, Hội thánh cần có nhu cầu của một trật tự trong cộng đoàn, với tổ chức sẽ phải thế.

Trong các dấu chỉ mà mọi người kỳ vọng sẽ xảy đến, có sự kiện bội giáo, tức tình trạng rã rữa nói chung về luân lý/đạo đức, và hiện tượng đấng bậc được mệnh danh là “người của tình trạng bất cần luật” đã xuất hiện tương đương với hiện tượng xảy ra ở một vài nơi khác vẫn được gọi là Phản-Kitô hay Giả danh Đức Kitô. Ngược giòng lịch sử, người đọc hẳn sẽ nhận ra một số truyền thống được mệnh danh như: phong trào có liên quan đến phong trào Linh Hiển kiểu Antiochus IV, như: Pôm-pê, Ca-li-gu-la, vv…

Thư Mục Vụ - Thư thứ nhất và thứ hai gửi Timôthê, Titô

Các thư này được gửi cho cá nhân từng người như đấng làm đầu hội thánh sở tại để đưa ra các đường hướng mục vụ, mà tuân theo. Từ vựng của thư gần với thần học Hy Lạp, nói chung chứ không mang tính chất rất Phaolô, như thư khác.  

(còn tiếp)

____________________

Lm Kevin O’Shea, CSsR

Mai Tá lược dịch