• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Phaolô và Công Vụ... - Phần 2


shared-journeyPhaolô và Công Vụ, một so chiếu – Phần 2

Phần hai sách Công Vụ hầu như chỉ nói về thánh Phaolô mà thôi. Thánh nhân được coi là dân con La Mã, nhờ vào bẩm sinh. Dù có thế, nhiều người vẫn nghi ngờ quốc tịch La Mã của ông, không phải như thế. Sách Công Vụ có đoạn nói: Phaolô thánh-nhân từng khiếu kiện đòi Xêda phải đích thân mở phiên toà do chính ông xét xử vụ việc của thánh nhân, một lần cho rõ. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là hỏi rằng: phải chăng mỗi người và tất cả mọi người dân La Mã có quyền được Xêda xét lại các vụ xử trước đó không? Đã từ lâu, thắc mắc này được giải mã bằng một khẳng định lại bảo rằng: sự việc ở đây không hẳn là như vậy. Chẳng ai dám kháng cáo hoặc khiếu kiện kiểu như thế. Có kiện hay cáo cho lắm, thực tế cũng chẳng có gì xảy ra, tiếp theo sau. Tuy là thế, ở đây có người lại vẫn thắc mắc cứ hỏi rằng: sự việc liên quan đến chuyện Phaolô thánh-nhân khiếu kiện lên Xêda đòi xử lại vụ án của mình có là sự thực lịch sử hay không?

Thật sự mà nói, Phaolô thánh-nhân vẫn tự coi mình là người học được nhiều điều trong suốt thời gian ông gần gũi đấng bậc Gamaliel ở Giêrusalem. Vả lại, thánh nhân là người Biệt Phái rất nhiệt thành, điều này ai cũng biết. Nhưng, là diễn giả thông suốt tiếng Hy Lạp, ông lại có tài ăn nói lưu loát, ứng biến và hùng biện ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào, với quần chúng. Tài ứng khẩu rất thu hút của ông, được diễn tả cả bằng tiếng Aram rất cổ, dù ngôn ngữ ấy không là tiếng mẹ đẻ mà ông từng thành thạo, vẫn là điểm son chỉ riêng Phaolô mới có.

Đi đến đâu, ông cũng muốn mọi người hiểu là ông dư biết cảnh tượng giới chức có thẩm quyền đã hành hạ, ức hiếp và ném đá Phó tế Stêphanô cho đến chết. Điều này có nghĩa là: sự việc xảy ra ở Giêrusalem vào thập niên 30, sau Công nguyên, dù đó là thời điểm chứng tỏ ông không có mặt ở đó, tại chỗ, nên chẳng có gì cần phải xét lại.

Vào lúc ấy, vị Thượng tế ở đây đã truyền cho Phaolô thánh-nhân phải có hành động chống đối bè rối từng trà trộn ở giữa cộng đoàn tín hữu Do thái sống ở Giuđêa. Vị Thượng Tế, còn cử người đến tận nơi cốt để loại bỏ cộng đoàn ở Đa mát, hầu tẩy trừ những người dám cấu kết với nhóm đạo rối, vừa mới nổi. Điều này, xét về mặt lịch sử, cũng chẳng có gì là chính xác, hết. Bởi khi đó, Đa-mát đã thuộc quyền cai trị không phải từ Giuđêa, mà là dưới quyền của vua Nabatêa. Một chi tiết khác nữa, là: ở Giêrusalem khi xưa, vai trò của Thượng tế cũng chẳng khi nào lại có được quyền bính lớn như thế.

Còn về thánh Phaolô, thì: trên đường đi Đa-mát, thánh nhân đã trải nghiệm sự kiện có tầm vóc rất lớn, khả dĩ đã biến đối toàn bộ cuộc sống rất năng động của ông.

Ở Công Vụ, cảnh tượng xảy đến với thánh-nhân trên đường Đamát xem ra chỉ là phó bản của truyện kể rút từ Tin Mừng thánh Máccô viết ở Chương 2. Cách riêng, ở đoạn 3 câu 24-25 trong đó tác giả kể về chuyện đổi đời của Hêliôđôrus. Chuyện kể nhân vật này bị hai thiên sứ nhà trời đánh cho gục mặt, đến độ nạn nhân bị tối tăm mặt mũi, toàn thân ông chìm ngập trong bóng tối lặng câm, nhưng sau đó ông lại cũng được khiêng đi nơi khác, đến mất dạng. Tiếp đó, lại có sự kiện một nhân vật khác mang tên Onias (còn gọi là Ananias) cũng từng ứng xuất động-tác hy sinh hết mình để ông được toại nguyện. Kể từ đó, ông quyết định hồi hướng trở về, ngõ hầu cải tà qui chánh, rất đúng lúc…

Tiếp đó, là sự kiện Phaolô tân-tòng hành xử một cách năng nổ khiến người Do thái lúc đó nổi cơn “điên tiết” vì ông dám cả gan luận bàn về lối sống rất mới của Đức Chúa. Chính vì lý do này, mà ông đã phải lặng lẽ bỏ đi Giêrusalem để mọi chuyện được êm đẹp. Cũng ở nơi này, thánh nhân được đồng môn Barnaba giới thiệu đến với tông đồ gần gũi Chúa. Sau sự kiện hồi hướng trở về rộn rã là thế, Phaolô lại đã thực hiện một số sự việc cụ thể khiến người Do thái một lần nữa, lại phẫn nộ khiến ông đành bỏ nơi đó mà về với Tarsus, chốn quê nhà bé nhỏ của ông. Thật ra thì, Phaolô thánh-nhân không bỏ được cái cố tật là đi đến đâu, sống ở nơi nào ông cũng đều dính dự vào các xung đột đủ mọi loại, rồi còn tranh chấp, đấu tranh với nhiều người khác, nữa. Thông thường, thánh nhân có thói quen hay đến chỗ đông người như hội đường Do thái để giảng giải về Đức-Chúa-Sống-Lại cách hăng say, nhiệt nồng đến độ kéo theo xung đột cả với giới có thẩm quyền ở hội đường. Rốt cuộc, thánh nhân bị các bậc thủ lãnh ở đó tống giam vào ngục thất, rồi truyền cho gia nhân dùng roi đánh cho 39 trượng, những 5 lần. Có lần, thánh nhân bị đám người này tìm đến định ném đá cho đến chết, nhưng cũng may là chuyện ấy không thành. Hồi còn ở Phillípphê, thánh nhân cũng bị một số quan chức người Hy Lạp truy lùng rất gắt đến khi bắt gặp đã tống giam ông vào ngục thất. Cũng may là, lúc ấy mọi người lại cứ nghĩ ông là công dân La Mã rất chánh hiệu, nên đã công khai xin lỗi, rồi phóng thích ông ngay lập tức, cho xong chuyện.

Rồi Công nghị ở Giêrusalem cũng là biến cố có tầm vóc rất lớn khả dĩ phát triển tài năng riêng tư của thánh nhân. Tầm vóc, to lớn đến độ nhiều người còn coi đây là sự kiện nổi cộm khiến ta có thể nối kết sự việc này vào với công cuộc tông-đồ mục-vụ ông từng thực hiện ở Antiôkia có liên quan đến cộng đoàn tín hữu vốn ao ước sống theo đường lối Chúa định đặt ra cho mọi người.

 

Phaolô và Hành trình Giảng rao ở Công Vụ

Ở Công Vụ, ta hội ra được một số mấu chốt nhằm chứng thực chi tiết năm tháng ngày giờ khả dĩ giúp ta hiểu rõ thân thế và sự nghiệp của thánh nhân hơn. Chẳng hạn như, thánh Phaolô từng trải nghiệm thị kiến vĩ đại về Chúa-Sống-Lại xảy đến với ông dạo năm 39, sau Công nguyên. Theo Công Vụ, thì Phó tế Stêphanô bị hành quyết vào niên biểu 36, tức thời kỳ Philatô bị rút ra khỏi Giuđêa, nên đã chỉ định người kế nghiệp, nhưng do bởi vị này chưa đến kịp, nên thánh Phaolô mới bị làm khó dễ đến như thế. Trong khi đó, Pôlliô là em của Achaia lại được bổ làm tổng trấn xứ này chỉ trong giai đoạn nhất thời, tức: từ mùa Xuân đến mùa Hạ, là sẽ có người đến thay thế.

Vào lúc ấy, thánh Phaolô lại đã thực hiện những 3 hành trình giảng rao chuyên nghiệp: một, ở đảo Sýp; hành trình kia, ở Tiểu Á; và hành trình cuối là Hy Lạp. Ở đây nữa, thánh nhân đã thiết lập một số cộng đoàn thân thương như: Cộng đoàn Thessalônikê, Phillíphê và Côrinthô. Thánh nhân từng đặt chân đến Athêna là nơi ông tiếp tục công tác mục vụ, nhưng không thành. Thật ra, thì việc sắp xếp hành trình theo mốc thời gian trước/sau thành 3 giai đoạn như vừa kể cũng chỉ mang tính giả định, thôi. Đây, là phương cách sắp xếp khá cổ điển; nghĩa là: Giáo hội ta cũng đã làm như vậy. Và làm thế, cũng để các đấng bậc được biết về thánh-nhân, là nhờ vào sách Công Vụ.

Giả như, có ai đó bất chợt gặp thánh-nhân ở góc phố thuộc xứ miền Êphêsô một ngày đẹp trời nào đó lại cứ cất tiếng lanh lảnh hỏi thánh-nhân xem ông đã thực hiện công trình rao giảng Tin Mừng của Đức-Chúa-Sống-Lại như thế nào? Có tuyệt vời lắm không? Chắc hẳn thánh nhân cũng không tài nào hiểu được ý của người hỏi, muốn nói lên điều gì? Ý nghĩa ra sao? Bởi, suy cho kỹ, hẳn ai cũng phải công nhận rằng: chỉ các nhà chú giải Kinh thánh mới là người định ra được cung cách sắp đặt hành trình diễn tiến ra sao thôi. Một, là giai đoạn có Công Nghị ở Giêrusalem, còn giai đoạn kia là do Galliô sắp đặt cho tiện việc ghi chép, chứ thực ra thánh Phaolô có làm gì cũng đều tuỳ vào niềm hứng khởi và điều kiện cốt tạo khí thế cho công tác mục-vụ ông thực hiện, thôi.

Bởi thế nên, nhiều tác giả đã không đồng thuận với nhau về việc định vị năm tháng ngày giờ cho giai đoạn đầu của hành trình rao giảng do thánh nhân thực hiện. Đồng thời, một số vị khác còn chọn thời điểm diễn tiến trước ngày được gọi là “Giai đoạn đầu hành trình giảng rao của Phaolô”, thôi. Lối sắp xếp định vị thời hoạt động của Phaolô theo kiểu của Galliô, xem ra có phần dễ chịu hơn. Bởi nhờ đó, nó giúp ta định ra được hành trình ở giai đoạn hai và giai đoạn cuối, rất chuyên nghiệp.

Để tô lên một lược đồ mang tính đơn giản, ta có thể tạo nét chấm phá về thân thế sự nghiệp của thánh nhân, theo Công Vụ, rồi định ra như sau:

Năm 36 sau Công nguyên: Thánh nhân hồi hướng trở về với Đức-Chúa-Phục-Sinh

Năm 46-49 sau Công nguyên: Hành trình thứ nhất tiến hành tại Nam Thổ Nhĩ Kỳ

Năm 52 sau Công nguyên: Hành trình thứ hai đi Tiểu Á và Hy Lạp: Hành trình thứ ba tập trung tại Hy Lạp và Tiểu Á

Năm 58 sau Công nguyên: Thánh nhân bị bắt giam ở Giêrusalem

Năm 60 sau Công nguyên: Hành trình Rôma

Năm 61 sau Công nguyên: Được tự do và ông rời nhà trại Rôma (sau đó ông đến các nước phương Đông và dự định đi Tây Ban Nha mà không xong)

Năm 64 sau Công nguyên: Ông qua đời tại Rôma vào thời bạo chúa Nêrô còn tại chức

Cũng nên biết, thánh Luca vẫn muốn thánh Phaolô cứ tiếp tục đi, đi mãi để rao giảng...

 

Hành trình ban đầu

Theo Công vụ chương 13-14, hành trình này khởi từ đảo Sýp và từ miền Đông Nam của Tiểu Á; tại đó có đồng môn Barnaba luôn tháp tùng thánh-nhân. Trong các thư do mình viết, thánh Phaolô không đề cập đến chuyện này, thánh nhân cũng chẳng nói gì về chuyện có đồng môn Barnaba đi cùng với ông.

Theo Công Vụ, thì trước nhất thánh Phaolô đi Tarsus là do lời mời của đồng môn Barnaba. Cả hai đấng bậc đều đã ra đi thực hiện công tác mục vụ, trước là ở Salamin, thuộc đảo Sýp, bởi thánh Barnaba là người xuất thân từ đó. Đi đường biển cũng không mất nhiều thì giờ cho lắm, bởi khi đó thánh nhân đã mau mắn được “thuận buồm xuôi gió”, nên cũng lẹ. Đoạn đường này cũng không xa là bao, chỉ cách đó có 135 dặm tính từ Sêlêukia đến Salamin. Salamin lúc ấy là thủ đô của Hy Lạp, và thời thánh Phaolô, đây là trung tâm mậu dịch lớn nhất rất thông thương. Đến thế kỷ thứ 7, nơi này lại là đống gạch vụn cả vào khi người Ả Rập tràn đến phá sạch. Nay, phần đất này là thuộc nước Thổ Nhĩ Kỳ tuy nó vẫn nằm gọn trong phạm vi thuộc đảo Sýp.

Chặng kế tiếp là lúc thánh nhân đặt chân đến, là Paphô. Nơi đây, có hải cảng lớn rộng cũng rất tiện, lại nằm dọc theo hướng Tây. Đây là chặng dừng chân có cảnh trí thiên nhiên, trông mát mắt. Tổng trấn La Mã thời đó là Sergiô Paulô được thánh Phaolô giúp đỡ ông được hồi hướng trở về với thánh hội ngay sau lúc thánh nhân chứng minh rằng phù thuỷ Bar-Jesus chỉ là kẻ gian lận mà thôi. Sergiô Paulô đến từ Antiôkia thuộc Pisiđia, là trung tâm của miền Tiểu Á. Có thể là, chính ông này cũng đề nghị Phaolô thánh-nhân và đồng môn Barnaba đi đến đó. Tất cả đều đã ghé bến Perghê, nay là miền duyên hải nằm phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó, tất cả mọi người đều đã ra đi ngang qua rặng Taurus đến với Antiôkia thuộc vùng Pisiđia. Cộng đoàn thuộc hội đường Do thái ở nơi này bao gồm ít nhất 50% là người ngoài Đạo.

Sau đó, các ngài lại nhắm hướng quay về phía Đông Nam có đoạn đường dài khoảng 90 dặm để đến xứ miền mang tên Ikônium. Đây là thủ phủ Phrigya rất cũ xưa. Đồng thời, một phần thuộc Galát vẫn có đó từ năm 25 truớc Công nguyên. Về sau này, nó được nối liền vào với Antiôkia ngang qua thủ phủ Sêbasta. Phaolô-thánh nhân từng đặt chân đến nơi đây, hơn một lần. Thánh-nhân và đồng môn Barnaba sau đó đi Lystra và Gherbê, nơi đây có con đường gồ ghề lởm chởm nằm giữa hai địa danh này. Ngày nay, chẳng có di tích nào còn sót lại. Các đấng lại dấn bước ra đi thêm lần nữa. Cũng từ bến cảng Perghê, các ngài lên thuyền về lại nhà, là nơi có cứ địa ở Antiôkia thuộc Syria.

Vừa đến nơi, các ngài đã lại gặp rắc rối vì muốn ghé thăm các tín hữu miền Giuđêa. Nơi đây, đấng bậc chủ chốt vẫn cứ đòi bạn đạo vừa hồi hướng trở lại, phải cắt bì. Riêng Phaolô thánh-nhân và đồng môn Barnaba lại không muốn chuyện ấy xảy ra với con dân mình vừa hồi hướng. Cả đến giáo hội ở Antiôkia cũng không muốn thấy những chuyện như thế xảy ra với họ. Và, kết cuộc như ta đã biết, Công nghị ở Giêrusalem đã bàn về chuyện này. Và ở đây, Phaolô thánh-nhân xem ra phải mất nguyên ngày trời để bàn cãi, cuối cùng mới đạt ý nguyện là có được sự đồng thuận của đấng bậc có trọng trách, khi đó có thánh Giacôbê và Phêrô, hai nhân vật chủ chốt ở nơi này. Xem thế thì, toàn bộ xứ Antiôkia đều vui mừng nhất loạt, về chuyện này.

 

Hành trình giai đoạn 2

Sách Công vụ, từ đoạn 15: 40 đến 18:22

Hành trình vào giai đoạn này, đa phần đều xảy ra ở Hy Lạp. Giai đoạn này, thánh Phaolô không có bạn đồng hành nào đáng kể đi theo.

Khi ấy, thánh-nhân đành khởi hành cùng với Sila bắt đầu giai đoạn 2, xuất phát từ chốn cũ để về miền đất hoàn toàn mới. Cuối cùng, đoàn cũng đến được Phillíphê, một thủ phủ thuộc Maxêđônia, chốn miền do thân phụ của Alexander Đại Đế, tức ngài Phillíphê thiết lập vào năm 360 trước Công nguyên. Người La Mã đã đặt chân đến nơi này từ năm 168 và đã làm nên con đường gọi là Via Ênhaxia nối liền biển Adriatic với biển Êgiê. Thủ phủ Phillíphê đã trở thành trung tâm mậu dịch lớn kể từ đó. Chính ở nơi này, nhiều cựu chiến binh thuộc đạo quân La Mã cũng về đây để hưu dưỡng. Thành thử, dân số ở đây ngày càng thêm đông nhờ có sự hiện diện của người La Mã. Những người này đều nói tiếng La tinh nhiều hơn Hy Lạp, do đó đã biến thủ phủ này thành một thứ thủ đô Rô Ma, rất bé nhỏ.

Khi ấy, người Do thái tụ tập về đây cũng khá nhiều. Điều đó cũng không có gì là bất thường cho lắm. Họ gặp nhau vào ngày Sabát, dọc suốt lên bờ sông Gargai. Chính ở nơi này, Phaolô thánh-nhân đã thâu nhận một số nữ phụ lành thánh, trong đó có chị Phryđia từng là dân ngoại biết kính sợ Chúa và chị cũng đã thực hiện nhiều công tác xã hội rất đáng kể.

Tiếp đó, đoàn lại đi Thessalônikê, thủ phủ chính của Maxêđônia cách đó chừng 100 dặm. Vào năm 42 trước Công nguyên, người La Mã từng tới đây để sinh sống rồi biến nơi này thành đất miền tự do, cho mọi người. Nơi này, chẳng bao giờ là thuộc địa của ai hết. Thủ phủ này có đường lối quản trị rất riêng tư, nhưng không kiểu cách. Và những người sống ở đây có thói quen sùng bái Hoàng đế, rất bề thế.

Phaolô thánh-nhân và bạn đạo Sila cũng đã thành công ở nơi này, nhưng không tránh được rắc rối cứ xảy đến. Các ngài lại phải bỏ nơi đó mà đi Bê-rê-a cách đó chừng 50 dặm về phía Đông Nam. Đây là chân đồi thuộc rặng Ôlympia, nằm chếch bên ngoài chính đạo, nhưng nó lại là chốn miền quan trọng. Ở đây, Phaolô thánh-nhân gặp một số người Do thái có đầu óc cởi mở, đầy nghị lực. Thế nhưng, rắc rối là những rối rắm đến từ Thessalônikê đã theo về, nên các ngài lại phải cất bước ra đi thêm lần nữa, đến Athêna.

Athêna, trước tiên là vùng đất trí thức, tức chốn miền văn hoá với các địa danh nổi tiếng như: Acrôpôlis, Parthênông, Athêna và Pathêô, vv. Phaolô thánh-nhân hân hạnh gặp được triết gia Êpicuriô và nhóm Khắc kỷ là những người từng mô tả thánh-nhân như “con vẹt” khi Phaolô nói về Đức Giêsu và sự Sống Lại. Họ đem Phaolô thánh-nhân đến đồi Arêpagus nhưng thánh-nhân biết tự bảo vệ chính bằng cách tuyên bố rằng mình là người thờ kính “Thần Vô Danh”, tức: Đấng có tế đàn đặt ở Athêna nên ông không bị họ kết tội là đã đem đến cho họ một đạo lý mới mẻ, rất khác lạ. Kế đó, thánh nhân lại chuyển về phía Tây cách đó chừng 50 dặm để đến trung tâm mậu dịch mang tên: Côrinthô. Thủ phủ Côrinthô được dựng xây từ năm 1000 trước Công nguyên, nhưng đã bị người La Mã phá hủy gần như toàn bộ vào năm 146 trước Công nguyên. Một trăm năm sau đó, Julius Xêda lại dựng xây nơi đó thành thuộc địa đặt dưới quyền cai trị của người La mã. Hồi thập niên ’50 và ’60 sau Công nguyên, đây là nơi trù phú nhất miền Nam Hy Lạp. Đồi Accrôcôrinthô cao hơn 1900 bộ chọc vút bên trên bán đảo Pêlôpônêsia. Nơi đây có dân số khá thưa thớt. Họ thường sống ở vùng sâu vùng xa, không thuận tiện, họ lại hay di chuyển đây đó, nên cũng khó. Nơi đây, có cả ngàn nữ-phụ vừa là nô lệ vừa là gái điếm, sinh hoạt tại ngôi đền thờ sung kính nữ thần Aphrôđita cũng năng động, như sinh hoạt ở thành phố ngay bên dưới.

Phaolô thánh-nhân lưu lại nơi đây chừng 18 tháng. Khi người Do thái không còn muốn nghe thánh-nhân rao giảng nữa, ông lại cất bước ra đi để về với người ngoại giáo. Ở đây, có hai nhân vật nổi tiếng là Titô Justô sống ở gần bên hội đường, và Krispô là trưởng hội đường từng làm những việc lành thánh nay hồi hướng về với thánh Phaolô. Lúc bấy giờ, người Do thái lại bốc đồng, nổi nóng khi họ thấy mình đã bị mất đi người một bạn rất tốt và cũng là người trợ tá đắc lực về tài chánh, nên mới đem Phaolô ra trước toà tổng trấn Galliô cáo buộc là thánh nhân vi phạm luật Torah của người Do thái. Galliô thấy đó chỉ là tranh chấp giữa người Do thái với nhau thôi, nên ông đã rửa tay, bãi luận tội. Điều này thực sự tạo cho Phaolô thánh-nhân và thành viên trong nhóm rơi vào tình huống giống như Đế quốc La Mã từng đối xử với người Do thái, thời trước đó.

Phaolô thánh-nhân lưu lại ở đó một ít ngày rồi từ cảng Kenkrêa ở Côrinthô, ông lên thuyền đi Êphêsô, một hải cảng lớn nằm phía bên kia biển Ê-giê. Đây là thủ phủ thuộc miền Tiểu Á của người La Mã. Nơi đây, có công trình đẹp đẽ nhất địa cầu thời bấy giờ, đó là đền thờ nữ thần Artêmi mà người La Mã vẫn gọi bà là Điana, nữ thần săn bắn và mắn đẻ.