• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Tin, động tác phát từ con tim


TIN, ĐỘNG TÁC PHÁT TỪ CON TIM

Chương III: Thần Học Niềm Tin như quà tặng: mô hình vô thức

Phần 1. Quà tặng Niềm Tin

Đôi điều cần tư duy

Ở đây, lại có thêm vấn đề về nguyên tắc, đó là: ta càng gần gũi sống với thực tại lại càng hiểu biết nhiều hơn. Thế nên, quà tặng cao quý về sự hiện hữu không hạn chế, chẳng bao hàm lại cũng không thúc ép, bởi tự thân, nó chính là bản chất của quà tặng được thấy Chúa.

Do bởi quà này đã có mặt nơi nguyên tắc vẫn có ở niềm tin, rõ ràng đó là quà tặng nguyên tắc về thị kiến thánh thiêng, khi các giới hạn hiểu biết theo cung cách tùy thuộc vào cảm xúc đã bị cái chết cất bỏ. Giới hạn này đang trờ đến, nhưng không đến từ món quà hoặc từ người tặng, mà từ cung cách ta biết được thứ gì đó qua cái chết. Tính tùy thuộc là ngôn từ có được sắc thái của khuynh hướng này, trừ phi ngôn từ đó đã được gỡ bỏ, nếu không thế, ta cũng gặp phải thất bại đến độ không thấy được nội dung bên trong.

Tôi nghĩ, quà tặng Chúa ban là sự việc Ngài đến với ta và gần cận ta đến độ ta có thể thấy Ngài cách trực tiếp, rất cấp bách. Nhưng, điều đó lại không thể xảy ra trong khuôn khổ giới hạn của sự sống dễ chết chóc. Thế nên, Chúa ban cho ta thứ sẻ san để thay cho quà tặng chung cuộc. Chúa đến với ta qua ngôn ngữ ta sử dụng. Chính đó là cung cách ta hiểu biết một cách tích cực khiến ta có Chúa trong niềm tin Ngài phú ban và ta tìm ra được ý nghĩa của thị kiến thánh thiêng này.

Kết cục, tôi vẫn nghĩ: thần học được dựng xây trên “niềm-tin-ta-nhìn-thấy” và nhờ ý nghĩa đích thực, nó đã thành một thứ “khoa học nằm bên dưới thị kiến thánh thiêng”. Thành ra, tôi coi nền thần học đích thực tựa như không có khả năng giảm thiểu việc nói năng, như triết lý, tâm lý học độc đáo, hoặc bất cứ thứ gì tạo nên tính tự nhiên này khác. Ở đây, lại đã có nền tảng bí nhiệm cho sự sống có ý nghĩa của ta, và đó chính là sự sống trí tuệ.

Với tôi, chừng như có tác giả nào đó đã đi ngược laị đường huyết mạch của sự “tăm tối” và đòi chút ánh sáng ở niềm tin, khác với động tác “tin”, nó xem ra cũng không đi xa là bao. Thật ra, có sự khác biệt ở nơi đó, nhưng đây không là việc chính; việc chính yếu lại là Động Lực lớn hơn; trời cao đang lôi kéo ta vào nơi đây và niềm tin là sự đáp trả ban đầu ta thực hiện cho nó là: vào lúc này ! Cũng tựa như các thầy Dòng phái khắc kỷ thường hay nói mỗi khi có đồng môn của mình đi vào cõi chết, vẫn quyết rằng: "Chúa gọi thầy về với Ngài...”

Tôi nghĩ đây chính là tiêu chuẩn tạo khác biệt giữa hai bậc hiển thánh là: Thánh Augustinô và Thánh Tôma Akinô. Thánh Augustinô rất tuyệt vời trong cung cách nắm bắt ảnh hưởng của niềm tin, còn Thánh Tôma lại suy tính theo đường lối do thánh Augustinô vạch ra, nên thánh nhân đã tiến tới và hội nhập vào tư thế của Thánh Augustinô đôi chút động thái trí tuệ kiểu Hy Lạp, đặc biệt là với triết gia Aristotle. Triết gia Aristotle cũng dựa vào ý niệm khoa học do ông đưa ra theo ý hướng bảo rằng: nguyên tắc trước nhất ( tức: những gì được nói theo kiểu tự ý nói ) diễn giải và tặng ý nghĩa cho các nhận thức thứ yếu ( tức: xuất tự cung cách tự ý mình nói ra ). Thánh Tôma Akinô thừa hiểu: quà tặng nguyên tắc về việc Chúa gần gũi “sống cùng” và “sống với” ta đã diễn đạt và nói lên ý nghĩa mọi sự việc này khác hơn ta tin tưởng và hiểu phần nào trong niềm tin.

Đây, là lập trường của Gilson trong bài viết nổi tiếng được ông cho đăng trong tập san ADHDMA năm 1925, có tựa đề: “Tại sao Thánh Tôma Akinô lại chỉ trích Thánh Augustinô ?”

Xác tín của riêng tôi về tính siêu nhiên thiết thực nằm trong niềm tin là đến từ nguyên tắc giản đơn nhưng liên tục do Thánh Tôma Akinô đề ra, tức: động tác trở thành đặc biệt do đối tượng chúng nằm giữ. Thế nhưng điều này lại đã gia tăng tầm kích mở rộng của nguyên tắc này. Nay thì: đối tượng của động tác tin tưởng rất thánh thiêng là: Thiên Chúa, tự nơi Thâm sâu và Sự Sống của Ngài, như quà tặng ban cho ta theo sắc thái của việc Kề Cận giả dĩ còn hiểu biết được.

Theo tôi thì: điều đó mang tính chất rất “Thiên Chúa” đến mức độ không thể giảm thành bất cứ thứ gì thua sút, ở thực tại không phai nhạt của Chúa, hoặc nói cho đúng, cũng từng gia giảm thành thứ gì khác giúp ta nói về Chúa. Nếu Chúa được trình bày theo khuôn khổ của ngôn từ/tự vựng có giới hạn của con người, thì Chúa ắt phải được chấp nhận ở mãi trong ta và Ngài cũng sẽ bị hạn chế do con người của ta có giới hạn nữa.

Như tôi thường vẫn nghĩ rằng: Thiên Chúa không lĩnh nhận bị hạn chế đến độ giống như thế, tức: đó là thú nhận một khác biệt chung cuộc giữa Chúa và thứ gì khác. Quả thật, Thiên Chúa là quà tặng Ngài ban cho ta, nhưng Ngài là Chúa như Ngài vẫn thế, chứ không là Đấng Thánh có giới hạn từng ban tặng. Ngôn ngữ nói loanh quanh việc này, chỉ là khuôn phép đưa ra lời thú nhận niềm tin khả dĩ giúp ta hiểu biết nhờ trí tuệ của con người.

Ghi chú: Ai muốn có thêm chi tiết, cũng nên biết rằng: Thánh Tôma Akinô có lần phân biệt “luồng sáng quang vinh” có kích động cấp kỳ của trí tuệ do Thực Tại Thánh Thiêng đỡ nâng, đó cũng là kích động để cho thấy chức năng công nhiên, tiềm ẩn tựa vết hằn đặc trưng, rất đặc biệt. Chính đây, là thứ kích động mà tôi từng nói ở đây, coi đó như sự việc Chúa “cận kề”.

Vai trò của thần học

Nhiều nhà thần học nay cởi mở hơn đối với chức năng đặc biêt của nền thần học mang tính diễn giải. Thần học ấy, nay có thể và cũng sẽ thách thức các lập luận sai trái, cùng đưa ra vấn nạn gai góc vốn dĩ đề suất khuôn khổ thay thế để Hội Thánh ta có thể nhận thức trong nguyện cầu. Các vấn nạn như thế, có lẽ cũng chấp nhận lối khai thác thần học mang tính chân phương, dễ chịu hầu nhượng bộ nhận thức để triển khai hoặc cả đến chuyện đi đến đổi thay khá đáng kể, trong huấn quyền chính mạch của Hội Thánh nữa.

Giáo huấn chính mạch của Hội Thánh ( khi xưa gọi là Huấn Quyền ) thường phản ứng rất tiêu cực về chuyện này. Trong khi huấn quyền của Hội Thánh không đòi ta phải tận dụng mọi triển khai tín lý, thẩm quyền Hội Thánh đòi giáo huấn ấy không được dẫn đưa con dân trong Đạo đi vào lầm lạc hoặc lối kéo họ xa rời Chúa. Thẩm quyền Hội Thánh đòi dân con người trong Đạo phải được dẫn dắt cách chắc chắn, không sai chạy. Thường thì Hội Thánh bác bỏ những gì mà các thần học gia thực hiện như thể tạo thêm huấn quyền nào đó song song với giáo huấn hiện thời lấy lý do để vinh thăng lối giảng dạy vượt ngoài chất tích tụ niềm tin lâu nay vẫn cứ tin vào huấn quyền của thánh Hội.

Thật sự thì ở đây, ta thấy có sự lẫn lộn về việc này. Bởi thật ra Huấn Quyền chỉ là sự thể mang tính mục vụ: các đấng có trọng trách ước định giá trị mục vụ hoặc hiểm nguy đến với dân con trong Đạo về diễn trình tín lý. Công việc của các nhà thần học lại mang tính chuyên môn, khoa bảng và có ích về cung cách truy tầm, nghiên cứu nghiệp vụ. Đó không là “huấn quyền” chút nào hết. Khi làm việc, hầu hết các nhà thần học nay không bắt đầu bằng các giáo huấn hiện có của Hội Thánh ( điều mà các ngài vẫn tôn kính ). Các ngài thích bắt đầu bằng lời rao giảng của Chúa nơi Tân Ước và truy xét dấu vết lịch sử nơi diễn giải nền tảng trải dài nhiều thế kỷ, cho đến khi các ngài đạt huấn quyền thời hiện tại. Huấn quyền lại những muốn các nhà thần học phải bắt đầu bằng giáo huấn hiện tại của Hội Thánh và lội ngược giòng mà làm việc.

Chắc chắn, ở đây có khác biệt về tính “tuyệt đối” chứ không là công thức của niềm tin. Đa số các nhà thần học hôm nay lại coi công thức này luôn ràng buộc với điều kiện lịch sử và văn hoá, nên sẽ triển khai nhiều hơn, trong mai ngày. Tính khí của giáo quyền Vatican lúc này còn tuyệt đối nhiều hơn nữa.

Sự kiện này dẫn đến tầm nhìn khác biệt về đối tượng niềm tin. Đến lúc này, tôi vẫn đeo đuổi lập trường của thánh Tôma Akinô khi thánh nhân quyết rằng: đối tượng niềm tin là Thiên Chúa, không nhạt phai, nhưng lại hiện hữu trong công thức niềm tin. Kinh nghiệm niềm tin vào Chúa không hạn chế, là cốt tuỷ của niềm tin ta có. Niềm tin tặng ban cho ta, không ra ngoài công thức ấy, nhưng nó cũng không tuyệt đối hoá công thức ấy như thể chính công thức ấy mới thánh thiêng, quyền lực.

Quan trọng hơn cả, là việc điều hướng vẫn còn diễn tiến, tức: điều hướng bất cứ đề nghị nào mới mẻ, đối với những gì thuộc truyền thống, để rồi việc triển khai công thức phải nằm trong ý nghĩa đích thực về Thiên Chúa có trong niềm tin rộng lớn. Để nắm bắt sự tràn đầy, trọn vẹn của Chúa như đối tượng niềm tin mở ra cho con người, chính là con đường nhận lĩnh giá trị và tính giới hạn của công thức.

Muốn có thêm chi tiết về các cuộc thảo luận mới này, xin xem R.Gaillardetz, The Road Ahead, America Magazine, 24/9/2012 và D. Wuerl, The Noble Enterprise, America Magazine, 4/2/2013.

Thiên Chúa của niềm tin

Với tôi, xem thế thì: đối tượng niềm tin, tức: câu hỏi “điều gì thế ?” được tin tưởng trong động tác như thế ấy, hoặc nhận thức ở động tác này, không chỉ duy nhất là về “Chúa”, mà là toàn bộ bí nhiệm về Chúa. Và, đó là sự thống nhất, hài hoà, một giao hưởng khúc có điều hướng về tất cả mọi bí nhiệm nơi Chúa, bởi Chúa nhìn thấy chúng và vui hưởng chúng, chứ không phải chúng được thích nghi vào những bắt chộp của ta.

Thành ra, câu “Điều gì thế ?” mà ta tin cũng không là sự vật nào hoặc người nào cũng chân phương và giản đơn, nhưng lại là động lực, một lực xuyên suốt cứ trải dài mãi... Đó là những gì ta quen gọi là “đối tượng” niềm tin của ta... Với riêng tôi, cụm từ “đối tượng” không là tự vựng khiến tôi hài lòng cho lắm.

Nói về nhận thức nào đó, cũng xin nhớ về nhận thức toán học chẳng hạn. Nó còn hơn cả biểu thức cân bằng, trong toán học. Tôi coi nhận thức này được định đoạt do bởi đối tượng của chúng, bởi những gì chúng nhìn thấy, tức: những gì chúng có nhận thức ở trong đó... Với niềm tin Kitô giáo, chính đó là sự hài hoà và điều hướng tất cả mọi bí nhiệm ta có nơi kinh Tin Kính. Ta không thể kính sợ điều đó; và từ đó đi vào niềm tin đích thực, cũng không xa. Niềm tin mang tính siêu nhiên, do đối tượng của nó về nhận thức là bí nhiệm siêu nhiên, nghĩa là: tin trực tiếp đi vào chính bản chất của Thiên Chúa. Nó không dừng lại ở đề nghị nào bất kể, nó xuyên thấu đề nghị đến với Chúa, với Thiên Chúa không giới hạn trong chính bản chất không hạn chế của Ngài.

( còn tiếp )

Lm. KEVIN O’SHEA, DCCT,

bản lược dịch của Mai Tá