• Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Lịch sử Hội Dòng MTG Cái Mơn - Phần I

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH

1. Giai đoạn đầu thành lập (1844-1857) - Khai Sinh Trong Am Thầm

dcngai wNgày 11.03.1844, Đàng Trong được chia thành hai Địa phận: Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) và Tây Đàng Trong (Sài Gòn). Đức Cha Dominique Lefèbvre Ngãi được giao trách nhiệm Địa phận Tây Đàng Trong. Một trong những công việc đầu tiên của ngài là phái bốn Chị: Quyền, Vui, Hiền, Cung thuộc cộng đoàn Mến Thánh Giá Cái Nhum về lập Dòng Mến Thánh Giá tại Cái Mơn, và chọn Đức Mẹ Vô Nhiễm làm quan thầy. Ban đầu các chị đến tạm trú tại nhà ông Trùm Bốn, sau đó, cha Fontaine cất cho các chị một căn nhà lá đơn sơ bên bờ sông Cái Mơn, ngang với Nhà Thờ Cái Mơn hiện giờ.

Vào thời điểm vua Thiệu Trị ra chỉ thị cấm đạo gắt gao nhất, ngày 30.10.1844, khi Đức Cha Ngãi bị bắt tại Cái Nhum, tất cả các chị Mến Thánh Giá Cái Nhum (cách Cái Mơn 6 km) phải di tản đến tá túc tại Cái Mơn. Năm 1846, tình hình Cái Mơn bất ổn, các chị lại phải rút về Cái Nhum.

Năm 1847, Đức Cha Ngãi được trả tự do, ngài lại cử bốn chị: Thơ, Lựu, Huỳnh, Hơn từ Nhà phước Lái Thiêu đến Cái Mơn, tập họp chị em đã tản mác về chung sống trong mái nhà rất đơn sơ.

Năm 1851, tình hình tạm yên, Đức cha Miche (Mịch) thấy cộng đoàn đã khá đông, nên đặt dì Matta Nguyễn Thị Lành làm Bà Nhất và dì Maria Trinh làm Bà Nhì để điều khiển cộng đoàn. Đây là những vị Bề trên tiên khởi. Kể từ đó, nhà phước chính thức được thừa nhận với danh hiệu Dòng Chị Em Mến Thánh Giá Cái Mơn.

Đức Cha cũng muốn có thêm chị em Mến Thánh Giá ở nhiều nơi khác nữa, nên đầu năm 1852 đã cho năm chị: Quyền, Bạch, Quý, Sửu, Thọ đến thành lập cộng đoàn mới ở Chợ Quán.

Năm 1853, các chị: Cung, Hơn, Loan, Thanh lập nhà khác ở Đầu Nước (Cù Lao Giêng). Và năm chị: Trí, Tài, Cần, Học, Bình lập chi nhánh tại Mặc Bắc. Tại đây, khi Thánh Philipphê Phan Văn Minh cùng với một số chủng sinh bị bắt, cộng đoàn Mặc Bắc cũng bị tàn phá tan nát. Năm 1859, hai chị Sáo và Màu lập thêm cộng đoàn khác ở Bãi Xan.

Những nơi vừa kể trên vì không có cơ sở vững chắc nên sau cùng đã quy tụ về Cái Mơn, Cái Nhum. Cuộc sống ban đầu tuy rất vất vả và thiếu thốn, nhưng chị em cảm thấy biết bao đầm ấm yên vui. Hằng ngày chị em cố gắng giúp nhau tập sống thánh thiện trong đời tu, nhờ sự hướng dẫn của quý cha Bề trên: Phêrô Tám, Phaolô Lượng, Phêrô Nguyễn Văn Lựu, Giuse Tùng. Cuối tháng 11.1858, Cha Phêrô Đoàn Công Quý, con thiêng liêng của Cha Phêrô Tám về thay. Ngày 07.04.1864, Cha Phêrô Lựu bị bắt và được phúc tử đạo tại Mỹ Tho.

Ngay từ khi thành lập, Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn gặp biết bao sóng gió do các cuộc bắt đạo. Có thể nói Cái Mơn là cái nôi của cuộc đổ máu các anh hùng tử đạo thuộc phần đất lục tỉnh miền Nam. Bấy giờ Nhà Dòng trở thành trung tâm cầu nguyện. Trong Nhà Dòng, có nhiều Linh mục, quới chức, được các nữ tu nuôi và cho trú ẩn, nhưng sau cùng tất cả đều lần lượt bị bắt.

2. Giai Đoạn Bách Hại (1858-1867)

2.1. Thử thách

Vào ngày 07.12.1858, ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, chị em lo chuẩn bị cho ngày đại lễ quan thầy của nhà phước. Lúc đó trong nhà có các linh mục ẩn lánh, nhưng các ngài phải lén ra ngoài dâng lễ tại nhà giáo dân, quanh khu vực nhà phước và các Dì cũng đến đó dự lễ.

Sáng ngày 08.12.1858, sau Thánh lễ, chị em trở về vừa ăn sáng vừa chăm chú nghe đọc sách thiêng liêng. Bỗng có tin báo cho chị giữ cổng: “Có lính tới, đi báo cho Bà Nhất, mau lên”. Vừa nghe báo, Dì Anna Miều, người giữ cổng đã thấy lính ập tới. Chạy vào nhà Dì đã thấy bọn lính đầy nhà. Một tên lính đến giựt cuốn sách Bà Nhì Trinh đang đọc. Sau đó, toán lính lục soát kỹ lưỡng để tìm bắt các cha theo như được báo cáo. Bà Nhất Matta Lành ra dấu hiệu cho chị em trốn chạy, riêng Bà và một ít chị em nhất định không chạy trốn.

Đến chiều, cha Tùng gởi thư ra lệnh cho chị em khác phải trốn đi, chỉ cần Bà Matta Lành ở lại. Nghe lời cha, chị em đành ra đi. Dì Ysave Ngọ và Dì Anna Miều xin tình nguyện ở lại với Bà Nhất, nhưng vì thấy Dì Miều còn nhỏ tuổi, Bà Matta ra lệnh cho Dì phải trốn, chỉ còn Dì Ysave Ngọ ở lại với Bà. Bọn lính lục soát rất cẩn thận, vơ vét hết tài sản của nhà phước. Họ bực tức vì không tìm bắt được Đạo Trưởng cai quản họ Cái Mơn. Ông Huyện Ba Vát ra lệnh bắt Bà Nhất Matta Lành, Dì Ysave Ngọ và một số giáo dân gần đó. Tất cả bị đeo gông, tống xuống ghe chở về Vĩnh Long. Khi đi qua làng Cái Nhum, Bà Nhất Lành ra dấu cho một người quay mặt về phía dân làng hô lớn ba lần: “Này, này, Cái Nhum ơi! Cái Mơn bị bắt, giải ra Vĩnh Long”. Mục đích báo cho Cha Jean Pierre Elisa Borelle Hoà là cha chính địa phận đang ẩn trốn trong thôn xóm.

banhatmattalanh w

Trong lúc Bà Nhất Lành bị lao tù, nhà phước cũng lâm cảnh hết sức tang thương. Nhà cửa bị triệt hạ, may nhờ bổn đạo chôn giấu dùm một ít cột kèo dưới rạch gần đó. Còn đá ong nhà phước dự định để xây nhà thì các quan cho ghe chở đổ xuống sông Mỹ Tho để ngăn chận tàu bè của Pháp. Tình hình biến động, tâm trạng bất an, chị em sống trong phập phồng lo sợ. Đau đớn thay, thời gian này, Bà Nhì Maria Trinh lại được Chúa gọi về. Chị em như đàn gà con lạc mất mẹ.

Mặc dầu Cha Bề trên Borelle Hòa vội vàng chỉ định Dì Anna Sáo đang ở Bãi Xan về điều khiển nhà phước, nhưng tất cả vẫn phải tản mác vì ông Tổng Trị, người cai quản vùng Cái Mơn luôn tìm bắt bớ các linh mục, vu cáo Dì phước để khảo tiền. Chị em hoặc về gia đình, hoặc ẩn trốn nơi nhà giáo dân, ngày ngày đi bán cao đơn hoàn tán, dùng phương pháp cổ truyền chữa một vài thứ bệnh thông thường, và qua những dịp như thế có thể dạy giáo lý, rửa tội cho người lớn, trẻ nhỏ trong trường hợp nguy tử.

Bà Nhất mang Thánh Giá, đàn em cũng mang Thánh Giá và ai nấy đều dùng Thánh Giá để cộng tác với Chúa Chịu Đóng Đinh.

            2.2 Dưới bóng Thánh Giá

Triều đình Huế càng lúc càng ra những chiếu chỉ cấm đạo gắt gao hơn trước. Trong bốn năm lao tù (1858-1862), bà Nhất Matta Lành và dì Ysave Ngọ đã thật sự tham dự vào hiện trạng tử đạo của đất nước vì trong khoảng thời gian này đã có rất nhiều giáo sĩ nước ngoài và bản xứ cũng như giáo dân chịu chết vì Chúa.

Bà Matta Lành, Dì Ysave Ngọ bị giam cầm tại nhà lao Vĩnh Long. Quan tổng đốc đã ra lệnh dùng rất nhiều hình khổ để tra tấn, dọa nạt, hy vọng sẽ khuyên dụ xuất giáo. Bà Matta bị đánh nhiều lần, tính ra tới 200 roi, thứ roi đầu bịt sắt, mỗi lần roi quất vào mình là thịt văng ra từng miếng. Hai lần Bà bị tra tấn đến ngất xỉu, tưởng như chết. Nhưng Thiên Chúa ban ơn cách lạ nên vết thương rất mau lành. Không ngờ thân xác yếu đuối như thế mà bà sống được tới năm 1883 và chết thánh thiện, hưởng thọ 58 tuổi.

Phần Dì Ysave Ngọ cũng tỏ lòng can đảm phi thường không thua gì bà Nhất Lành. Lần kia,quan ra lệnh đánh đập Dì hết sức tàn nhẫn, Dì lịm đi. Quan Trấn tưởng đã chết, nên dạy lôi xác Dì qua Thập Giá. Lạ thay, người ta vừa nâng xác lên khỏi mặt đất, Dì liền tỉnh lại, rồi một tay ghì chặt cái gông đang mang trên cổ, tay kia cầm ảnh chuộc tội giơ cao lên như chiến thắng và hô to trước mặt mọi người: “Con kính lạy Chúa Giêsu, Chúa con Con kính lạy Thánh Giá”. Các quan rất tức giận, nhưng phải chịu thua chí khí can trường của hai nữ tu này và đành phải tiếp tục tống giam vào ngục, nhốt chung với 40 tù phạm khác: cổ mang xiềng, đeo thêm gông, ban đêm thì bị đóng trăn (cùm chân). Đang khi phải giam cầm khốn cực, Chúa đã cho ông Đội đề lao, tuy là người ngoại đạo nhưng rất tử tế với tù nhân Công giáo nhất là đối với hai Dì phước. Ban đêm khi không có lính tuần phòng, ông lén mở trăn cho hai Dì và có khi ông lấy phần ăn của mình cho hai Dì nữa. Ông cũng cho phép bổn đạo vào thăm viếng tự do. Nhờ vậy, các Cha Việt Nam tới lui ban phép Giải Tội và đem Mình Thánh Chúa cho giáo dân và hai Dì dễ dàng.

Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Hòa ước Nhâm Tuất (05.6.1862) bắt buộc vua Tự Đức chấm dứt các cuộc bách hại đẫm máu.

Trong lúc thành Vĩnh Long thất thủ, binh lính triều đình quá vội vàng, chưa kịp phóng hỏa vào các nhà tù để làm hiệu lệnh rút lui như đã thực hiện tại vùng Biên Hòa, Bà Rịa, thì quân Pháp đã mở cửa ngục để thả tù nhân. Ai nấy đều cảm động khi nhận diện được hai dì phước Cái Mơn ốm yếu, bệnh hoạn, nhất là Bà Matta Lành vì đã nhiều lần bị tra tấn, tưởng chừng như sức mỏng manh của con người không thể chịu đựng nổi, nhưng nhờ sức mạnh và tình thương của Chúa, sắc mặt lại vẫn tỏ vẻ vui mừng và cương nghị. Thật, Thánh Giá của Chúa không bị xô ngã nhưng vẫn đứng vững hào hùng.

 II.THỜI PHỤC HƯNG (1862 – 1867)

1. Củng cố

Từ chốn lao tù về lại tổ ấm Nhà Dòng, sau 2 tháng an dưỡng, Bà Nhất Matta Lành bắt đầu xây cất lại Nhà phước, và dần dần qui tụ chị em tản mác trở về (11 người) để chỉnh đốn lại đời tu.

2. Tiên Khấn

Niềm vui mừng được nhân lên khi Đức cha Dominique Lefèbvre Ngãi đến và chấp nhận lời tiên khấn của 2 chị Thức và Quyền (1862). Năm 1864, nhà phước có 8 Dì Khấn và 5 chị Tập Nhặt.

tuphuccu3. Tu phục

Thuở ban đầu, chị em không có tu phục riêng, hoàn toàn ăn mặc như người ngoài đời, trừ khi dự Thánh lễ thì chị em mặc áo dài như các phụ nữ Việt Nam lúc dự lễ hoặc đám tiệc.

Đến năm 1864, Cha Pierre Charles Gernot (Quý) về nhậm sở Cái Mơn đồng thời làm Cha Bề trên nhà phước.

Năm 1867, cơn bắt đạo dường như tắt hẳn. Cha Gernot đề nghị với Đức Cha Lefèbvre cho các nữ tu có tu phục. Thế nên, Chúa Nhật I sau lễ Phục sinh năm đó, cha giúp chị em cấm phòng, rồi chính tay cha cắt tóc cho các chị Tiên khấn, mặc áo dòng đen, lúp đen, đeo ảnh Thánh Giá trước ngực; các chị Nhà Tập thì chỉ mặc áo dài trắng, không lúp và không đeo ảnh Thánh Giá.

Tuyên khấn và Tu phục đã tạo nên hình thể một Nữ tu chính thức, dựa trên Thánh Giá Chúa Kitô. Đây thật là một bước tiến phần nào vững chắc cho Nhà phước sau những đau thương, khó nhọc của Bề Trên và chị em.

 

III. TRƯỞNG THÀNH (1867 – 1905)

1. Sinh hoạt

Lúc mới thành lập, Nhà Dòng nghèo, tài chánh eo hẹp, hơn nữa sự học vấn dường như chưa được gọi là nhu cầu cấp bách. Chị em học ít, lao động nhiều. Chị em phải đi cấy, đi gặt, đi xúc, đi tát, đi đăng kiếm sống qua ngày. Phải vất vả lắm mới được ngày 2 bữa ăn. Các chị em đi làm vườn thì mang theo mỗi người cái gáo dừa, khi gặp con còng, con cá… dù nhỏ, cũng bắt đem về ăn. Khi không bắt được thì ăn “muối kho quẹt”. Ban ngày làm việc nặng nhọc, đêm đến phải thức khuya dậy sớm để xay lúa giã gạo.

Học hành thì sách vở giấy bút không có, chị em phải rọc lá chuối non hoặc lá mít, phơi khô rồi dằn cho sát để làm giấy viết bài học. Nhiều lúc ban đêm phải học dưới ánh trăng vì không đủ đèn.

2. Ơn Gọi

Vào thời điểm này, Cái Nhum và Cái Mơn có thể nói được là chiếc nôi của đạo Thiên Chúa trong vùng Vĩnh Long, Cần Thơ, Mỹ Tho. Cái Mơn nằm gọn trong cù lao “Minh”, hầu như được bao kín bởi những nhánh sông uốn khúc quanh co, kênh rạch chằng chịt. Vì là nơi hẻo lánh, vua quan không mấy để ý, giáo hữu khá đông (do lánh nạn đến lập cư), các cha thường xuyên lui tới và có thể ngụ lại. Do đó, đạo phát triển khả quan và trổ sinh nhiều ơn gọi nam nữ, đặc biệt có Thánh Philipphê Minh.

Với lối sống mộc mạc, giản dị, khiêm tốn, chịu khó và thương người, chị em MTG đã thu hút được nhiều ơn thiên triệu đến từ các họ đạo lân cận.

         3. Văn hóa

Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn thường phục vụ nơi các họ đạo thôn quê, cho giới bình dân nghèo khổ. Vì thế, trong buổi sơ khai, các chị vào Dòng do thiện chí và tinh thần tu là căn bản. Học kém hay thất học cũng không mấy quan trọng, Thánh Giá mới chính là động lực!

        btmieu 4. Hoạt động tông đồ

Năm 1867, Cha Bề trên Gernot Quý chỉ định Dì Anna Miều 26 tuổi, cùng với một chị đến dạy kinh bổn ở vùng Phú Hiệp (Bến Tre). Ban ngày hai chị rảo quanh các làng mạc để đem Chúa đến cho tâm hồn, đêm đến lại trở về con thuyền chật hẹp để nghỉ ngơi và cầu nguyện. Khi lãnh trách nhiệm làm Bà Nhì, Bà Miều vẫn tiếp tục đi giảng đạo và dạy chầu nhưng (dự tòng) ở các vùng lân cận như Cái Tắc, Cái Hàng, Giồng Mít, Bang Tra thuộc tỉnh Bến Tre.

Ở Bang Tra, bà giảng dạy giữa chợ, có nhiều lần vô chùa cãi lẽ đạo với sư sãi. Lần kia, bà vô thăm và cãi lẽ trong chùa, khi ra về, bà hẹn hôm sau trở lại, nhưng khi trở lại thì “vườn không chùa trống” sư sãi lẫn tránh đâu mất… bà còn len lỏi đi xuống Tú San, Giồng Luông, Giồng Miễu, tới mãi Giồng Oi (tỉnh Bến Tre) để giảng đạo. Và kết quả thật vượt quá khả năng của loài người, trong vòng hai năm (1867-1869), hơn 600 người lớn nhỏ tin theo đạo Chúa và được rửa tội.

Năm 1869, bà được chị em chọn làm Bà Nhất, lãnh đạo Nhà phước 46 năm. Bà rất khôn ngoan trong việc cai quản Nhà phước, lúc nào cũng nhiệt tâm sốt sắng trong việc truyền giáo. Bà là người cộng tác đắc lực nhất của Cha Bề trên Gernot Quý.


IV. THỜI KỲ PHÁT TRIỂN (1905 – 1975)

1. Văn hoá

Khi hoàn cảnh biến chuyển, dân trí mở mang thì chị em trong Dòng cũng phải cập nhật hóa về văn hóa, để có đủ điều kiện phục vụ việc truyền giáo. Các Bề trên cũng nhận ra nhu cầu, nên việc giáo dục trong Dòng dần dần chuyển hướng.

Các tập sinh và thử sinh bắt đầu học văn hóa nhiều hơn lao động tay chân, để có thể đảm trách các trường công giáo trong các họ đạo của địa phận. Từ năm 1913, chị em đã dự các kỳ thi chính thức của ngành giáo dục và kết quả học tập của các chị em rất khả quan.

Về sau, các Bề trên còn gởi nhiều chị em đến những nơi như Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt… để học: lấy văn bằng, nghề, các chuyên ngành để mở rộng kiến thức, hiểu rõ giá trị đời tu và sống đạo sâu sắc hơn, lại cũng nhờ đó mà thực hiện tốt việc truyền giáo. Năm 1953, Đức cha Ngô Đình Thục cho phép nhà phước mở trường Trung Học tại Nhà Dòng để dạy chị em trong nhà và các nữ sinh vùng lân cận.

Thời Cha Bề trên Quý đã cất được 52 trường tiểu học (khoảng đầu thế kỷ 20) do chị em đảm trách.

2. Xã hội

Dòng không chuyên về công tác xã hội, nhưng vì những việc bác ái từ thiện là con đường đi vào tâm hồn của dân tộc. Nên từ thời xa xưa Dòng đã gây dựng nhiều cơ sở làm việc bác ái xã hội:

conhivien

 - Lập nhà Ấu Trĩ Viện để nuôi dưỡng các trẻ em bị bỏ rơi:

 + Năm 1873 tại Cái Mơn,

 + Năm 1895 tại Giồng Rùm (Phước Hảo),

 + Khoảng năm 1912 tại Tam Bình.

Những nhà này sau một thời gian không còn tồn tại vì kinh tế khả quan hơn, dân chúng ít bỏ rơi con, trong một vài trường hợp nếu họ không nuôi con được, họ có thể đưa vào cô nhi viện.

 - Năm 1875, cô nhi viện tại Cái Mơn được hình thành, nhà này sau chuyển về Huyện Mỏ Cày (thuộc tỉnh Bến Tre).

 - Năm 1885, cha Bề trên Gernot Quý lập nhà thương bên cạnh Nhà Dòng với mục đích an ủi, giúp đỡ người nghèo và rửa tội cho lương dân.

 - Năm 1965, thành lập cô nhi viện An Phong ở Vũng Tàu, do Dòng Chúa Cứu Thế tài trợ; thời gian sau đưa về Vĩnh Long, đổi tên là Cô Nhi Viện Diễm Phúc.

Bên cạnh đó, nhà dòng cũng tổ chức những lớp dạy nữ công gia chánh, dạy nghề cho các em.

 3. Xây dựng cơ sở vật chất

 Số nữ tu ngày càng đông, cộng đoàn phát triển nên những dãy nhà lá mỏng manh không đủ chỗ cho chị em sinh hoạt, vì thế:

 - Năm 1855, Cha Thánh Phêrô Lựu, cha sở họ đạo Cái Mơn đã cho cất một ngôi nhà gỗ khá tốt, chia thành khu vực và phòng ngăn nắp hơn.

 - Năm 1905, Cha Bề trên Gernot Quý và Bà Nhất Anna Miều cất được một nguyện đường. Nguyện đường này được Bà Nhất Anna Hồi tái thiết năm 1972. Năm 2007, ngôi nhà nguyện này được hoàn toàn xây lại mới do Chị Tổng Phụ Trách Agnes Nguyễn Thị Phụng.

nnguyenhd 1905                                                                     Nhà nguyện được xây năm 1905                                                                                

 - Năm 1915, số nữ tu khấn lên đến 157 chị. Bà Nhất Ysave Kế vâng lời cha Bề trên Isidoro Đượm (sau làm Giám Mục) xây cất ngôi nhà dành riêng cho các chị đã khấn. Năm 2006, ngôi nhà này đã được tái thiết lại.

 - Năm 1924, nhà tập sinh được xây dựng và hoàn thành.

 - Năm 1929, xây nhà ăn.

 - Năm 1933, xây Nhà Hưu dưỡng. Năm 1953 nhà này được chuyển thành Trường Nữ Trung Học Đệ Nhất Cấp (trường Fatima). Ngày 03.03.1978 Nhà nước mượn ngôi trường này để sử dụng vào việc giáo dục. Năm 2009, ngôi trường đã được trả lại.

 - Năm 1958, xây nhà khách.

 - Năm 1973, kiến thiết Nhà Hưu dưỡng.

Nhà Dòng dần dần mua thêm sở ruộng để phần nào bảo đảm cho cuộc sống vật chất và phát triển. Ngoài ra, nhà Dòng cũng mua được các nhà làm Trụ Sở của Dòng ở vài nơi như Sài Gòn, Vĩnh Long, Trà Vinh, Vũng Tàu.

 

6. Ảnh hưởng thời cuộc – Lá lành đùm lá rách

Những năm cuối cùng của Đại Thế Chiến II (1938 – 1945), Sàigòn bị bom đạn, nên năm 1944, Đức cha Jean Cassaigne đã gởi 7 nữ tu Dòng Kín Sài Gòn đến tá túc tại nhà phước Cái Mơn. “Lá lành đùm lá rách”, nhà phước Cái Mơn vui mừng tiếp đón những con người từ cõi sống “huyền bí”… Mặc dầu cuộc sống vật chất có đạm bạc, thiếu thốn, nhưng tình thương chan hòa. Đôi bên kết nghĩa thân tình, đùm bọc và chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm sống đời tận hiến.

Thắm thoát ba năm trôi qua, tình thế yên ổn, các chị được trở về Nhà Mẹ Sài Gòn tiếp tục nếp sống chiêm niệm khổ hạnh. Một cuộc chia tay đầy lưu luyến. Những ngày chung sống kết thúc, nhưng lòng thương mến vẫn còn và còn mãi. Hiện nay, một vài chị em trong số đó vẫn còn sống.

Song song với việc Pháp bị Nhật đảo chánh, Nhà Dòng cũng lâm cảnh lo âu. Việc tập trung đông đảo nhiều thiếu nữ tại một nơi gặp nhiều khó khăn, nên cuối năm 1945, chị em tại Nhà Dòng phải tản về gia đình, còn các Dì đang phục vụ ở họ đạo không dám trở về Nhà Dòng. Đồ đạc lúa thóc của Nhà Dòng phải đem gởi nhà giáo dân vì sợ bị đốt nhà. Liên tiếp ba năm liền, nhà phước sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Tạm ngưng việc khấn dòng.

Mỗi lần có cuộc xung đột, Nhà Dòng phải hết sức bận rộn: vừa lo cho chị em trong nhà, vừa đón tiếp và lo cho giáo hữu đến tá túc.

Nhân sự Hội Dòng theo thời gian:

 -    1850: có 5 khấn sinh.

 -    1873: 27 khấn sinh

 -    1904: 167 khấn sinh.

 -    1973: 351 khấn sinh.

 -    1975: 356 khấn sinh.


(Còn tiếp)